Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2017

BÚT KÝ LÍNH TĂNG- HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP- 29


Sau ngày hiệp định Paris được ký kết, công tác tiếp vận từ Bắc vào đã thuận lợi hơn nhiều. Xe ô tô có thể chạy cả ban ngày nên tốc độ cũng như lưu lượng hàng vận chuyển được tăng cao vì thế tiêu chuẩn bộ đội được bảo đảm. Các rẫy tăng gia cũng đã bắt đầu cho sản phẩm nên đời sống bộ đội đã được nâng lên rõ rệt. Cái đói, cái rét đã bị đẩy lùi nhưng chính trị viên Toàn cảm thấy hình như vẫn thiếu một cái gì đó, có lẽ đó là không khí của đơn vị còn trầm lắng quá chăng?. Anh bàn với đại đội trưởng Thận và hai người đi đến quyết định phải có biện pháp để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của bộ đội.
Công việc đầu tiên được chọn là phải làm sân bóng. Khoảng đất trống trước cửa nhà trung đội Một được chi đoàn thanh niên phát động mấy buổi lao động xã hội chủ nghĩa đã được phát quang, đánh gốc và san lấp đã hình thành một sân bóng chuyền. Chiều chiều tiếng hò hét, tiếng đập bóng đã làm huyên náo cả một góc rừng. Đến bây giờ mới hé lộ bóng dáng của những ngôi sao. Đại đội trưởng Thận té ra cũng là một cây đập có hạng, anh đập không mạnh nhưng “khôn bóng” nên hiệu quả rất cao. Sáu Bùi hóa ra không chỉ ăn khoẻ mà còn là một cây tiến công chủ lực với những cú đập búa bổ. Cậu ta vênh vang: “nếu đấu bóng chuyền theo kíp xe thì xe 386 sẽ nhất binh chủng”. Có lẽ thế thật vì xe ấy cả Chỉnh híp và Thọ đen đều chơi được.
Sau sân bóng chuyền đến sân bóng đá. Mất hơn một tuần lao động ngoài giờ cái sân bóng đá mới hình thành, tuy mỗi bề chỉ ba bốn chục mét nhưng cũng có thể đá “gôn tôm” được. Vừa mới làm xong sân bóng đá đã hút hết cả người, đại đội trưởng Thận hóa ra là một tiền đạo cánh có tốc độ rất nhanh và đôi chân khéo với những đường đi bóng cực kỳ lắt léo. Còn Trang thì khỏi nói, cậu được dịp thể hiện sở trường của mình và trung đội Một của cậu thường là đội thắng. Ra sân bóng chuyền giờ chỉ lèo tèo vài mống nên đại đội lại phải lên lịch quy định ngày thì chơi bóng chuyền, ngày thì chơi bóng đá.
Không chỉ đại đội Bốn làm sân bóng mà đại đội Ba rồi tiểu đoàn bộ cũng làm nhưng chỉ làm được sân bóng chuyền. Hóa ra đội bóng của họ cũng chẳng yếu. Trên tiểu đoàn thì có tiểu đoàn phó Phạm Ngọc Bảng là cây đập chủ công, còn bên đại đội Ba thì Hải “xoăn” là linh hồn của đội. Các trận đấu trong tiểu đoàn diễn ra thường rất căng thẳng, thắng bại chỉ được quyết định bởi những tỷ số hết sức sít sao. Cả tiểu đoàn chỉ có hơn trăm người nhưng đội tuyển bóng chuyền cũng đã có tên tuổi trong khu vực. Trong các trận giao hữu hay giải đấu chính thức đội bóng chuyền của tiểu đoàn xe tăng 408 đã thi đấu hoàn toàn ngang ngửa với các trung đoàn công binh, cao xạ và chỉ chịu thua đội bóng của sư đoàn 324.

Tiểu đoàn về vị trí này được mấy tháng thì một bản của bà con dân tộc Pa Kô cũng về định cư ngay bên cạnh. Đó chính là bản A lê nốc, quê hương của hai người anh hùng Hồ Vai và Kan Lịch. Nghe bà con nói chuyện mới biết: ngày xưa họ cũng đã từng ở đây, nhưng vì chiến tranh phải chạy tít lên núi cao, bây giờ hòa bình rồi lại về đây ở cho đỡ khổ cái chân. Nhìn những gương mặt đen đúa, những thân hình tiều tụy, những hàm răng bị cà không còn răng cửa, những đứa bé bụng ỏng đít vòn… không ai không cảm thấy mủi lòng. Nhưng có lẽ không mấy ai biết cũng chính những con người ấy đã một lòng một dạ theo cách mạng. Họ sẵn sàng ăn sắn, ăn lá cây quanh năm để dành gạo cho bộ đội và chỉ một bản nhỏ mấy chục nóc nhà này mà có đến hai người anh hùng. Trong cái bản nhỏ ấy cũng có hai cô gái khá xinh, đó là Kan Hường và Kan Pia. Kan Hường người thanh mảnh, có khuôn mặt khá đẹp và chắc là đã tiếp xúc nhiều với bộ đội, thanh niên xung phong nên ăn diện như người Kinh. Còn Kan Pia đậm người, cô vẫn ăn mặc theo lối của đồng bào, khuôn mặt không xinh như Kan Hường nhưng toát lên vẻ hồn nhiên và chất phác. Đã hàng năm trời không được ở với dân, không thấy bóng con gái nên lính ta khoái lắm, cứ rỗi rãi lại mò ra bản và dập dìu nhất vẫn là hai túp lều của Kan Pia, Kan Hường.
Pháo thủ Phong dạo này chịu khó lắm. Hết giờ làm việc lại thấy cậu một mình lỉnh ra cái lán xe 387 nằm khuất nẻo sau đồi đục đục, đẽo đẽo. Ai hỏi làm gì cậu ta cũng chỉ nhăn răng cười trừ. Độ một tuần sau thì đã nhận ra bóng dáng một chiếc giường gỗ. Phải công nhận Phong khéo tay, chỉ độc con dao quắm với cái tuốc nơ vít sắt mài sắc mà cậu ta đã biến mấy mảnh gỗ đã xẻ sẵn từ hồi làm nhà thành một chiếc giường như được bào đục hẳn hoi. Phong còn xin y tá Tảo ít qui nin về hòa nước quét cho cái giường màu vàng ươm trông thật thích mắt. Mọi người cùng bàn tán: “thằng này sao chơi trội thế, cả đại đội nằm giường tre ghép mà nó lại định nằm giường gỗ à?”.
Nhưng rồi một hôm cái giường biến mất. Những người quan tâm đến sự kiện này hỏi Phong chẳng trả lời mà cứ tủm tỉm cười. Sự việc chỉ được sáng tỏ sau hôm chủ nhật quân ta vào bản phát hiện ra: chiếc giường vàng choé mà Phong đã lao tâm khổ tứ suốt nửa tháng trời đang hiện diện ở một vị trí trang trọng trong nhà Kan Pia. Ai cũng bảo: “Đúng là Phong dại gái”. Riêng Phong vẫn chẳng hé răng điều gì nhưng ra chiều mãn nguyện lắm.

Không biết có ai gợi ý hay không mà một hôm trung đội trưởng trung đội Hai Lê Xuân Tự nói nhỏ với chính trị viên Toàn:
- Trong khu ủy có mấy cô hát dân ca Huế hay lắm, mình đóng quân ở đây mà không biết hát dân ca xứ này thì cũng không hay. Sắp tới tiểu đoàn tổ chức hội diễn văn nghệ, nếu biết hát dân ca ta cũng sẽ có món “độc chiêu”. Hay là ta mời họ về dậy cho anh em mình mấy buổi.
Gì chứ sáng kiến này được chấp thuận ngay và thế là Tự được cử làm “đại sứ” đi liên hệ. Ngày hai “em” Thu Sen và Thu Lượng cùng với mấy anh trên khu ủy về đại đội dạy hát dân ca trở thành một ngày trọng đại đối với đại đội Bốn. Dẫu nước da vẫn còn tái mét sau những trận sốt rừng hai cô gái Huế vẫn là trọng tâm chú ý của mấy chục cặp mắt sáng như đèn ô tô mở hết cỡ. Có gì lạ đâu, trừ mấy cô gái dân tộc ngoài bản A lê nốc thì hơn một năm rồi đây là lần đầu tiên họ được gặp con gái, được nghe tiếng nói tiếng cười con gái mà lại là gái Huế chính hiệu. Lẽ ra chỉ một số hạt nhân văn nghệ được lên học hát nhưng rồi tên nào cũng kiếm cớ để ngồi há hốc mồm ra nghe thì ít mà nhìn là chính. Tráng và Tự thì như bắt được của, cứ lăng xa lăng xăng chăm chút cho các em từng ly từng tý.
 Thì ra các điệu “lý” hay “hò” của dân ca Huế cũng không khó hát cho lắm. Chỉ hai buổi được hướng dẫn mà lưng vốn của anh em trong đại đội cũng đã có gần chục điệu hò, điệu lý như “Hò giã gạo”, “Lý mười thương”, “Lý con sáo”, “Lý ngựa ô”….
Vốn sáng ý nên Trang nhập tâm ngay và chỉ sau hai ngày thụ giáo cậu đã thuộc lòng các làn điệu. Trang còn nhận ra một điều là các điệu hò, điệu lý chủ yếu dựa trên nền thơ lục bát và thế là cậu nảy ra ý định sáng tác một vở ca kịch dựa theo dân ca Huế.
Nghĩ là làm, cứ rỗi rãi Trang lại ngồi hý húi ghi chép, gạch xóa. Một tuần sau vở ca kịch mang tên “Đường dây ai nối” của cậu đã ra đời. Đại để câu chuyện như sau: đường dây điện thoại giữa tiểu đoàn bộ và đại đội Bốn bị đứt không liên lạc được, cả hai bên đều cử chiến sĩ đi nối dây. Đúng lúc đó có hai bố con đồng bào Pa Kô đi rẫy về qua, người bố thì bảo kệ họ, cô con gái thì quyết tâm nối giúp. Sau khi tranh luận một lúc thì ông bố cũng đồng ý. Họ nối dây xong thì cũng bỏ đi luôn, hai anh lính thông tin hai đầu chạy lại gặp nhau nhưng không thấy đứt chỗ nào. Câu chuyện bây giờ quay sang một góc độ khác là tìm xem ai là người nối dây. Thực ra nội dung của nó không có gì đặc biệt, tình tiết cũng đơn giản… nhưng cái đặc sắc của nó là được diễn tả bằng dân ca Huế nên Toàn, Nam, Tự đều rất tâm đắc và quyết định sẽ dàn dựng để tham gia Hội diễn văn nghệ của tiểu đoàn sắp tới.
Và đúng là trong Hội diễn đợt đó vở ca kịch “Đường dây ai nối” đã giành giải đặc biệt. Quản lý Minh đã đảm nhiệm một cách xuất sắc vai cô con gái, mỗi tội giọng hát giả tiếng con gái chưa đạt lắm. Hợp “vâu” trong vai ông già Pa Kô cũng được, giống hệt cả ngoại hình lẫn giọng nói. Còn hai vai chiến sĩ do Tự và Nghị đóng thì không còn gì phải nói nữa, người xem chỉ hơi có ý kiến chiến sĩ Tự điệu quá. Sau hội diễn tiểu đoàn cũng quyết định sẽ nâng cấp vở này và sẽ đưa đi hội diễn cấp trên nếu có dịp.

Thấm thoắt mà về vị trí mới đã gần nửa năm, nhà cửa, lán xe đã tương đối hoàn chỉnh, ngoài rẫy tăng gia sắn ngô đã lên đến ngang ngực, rau cũng đã cho thu hoạch lứa đầu. Cuộc sống ở đây đã có cái gì đó mang dáng dấp thời bình trừ vấn đề trực chiến vẫn được tăng cường.
Giữa lúc đó có khá nhiều tin vui: tiểu đoàn từ nay sẽ không trực thuộc quân khu Trị Thiên nữa mà trở về với đội hình của trung đoàn xe tăng 203. Lại được trở về trong đội hình binh chủng dù sao cũng thấy “ấm áp” hơn, tiêu chuẩn chế độ chiến sĩ xe tăng được bảo đảm hơn và quan trọng hơn cả là đã bắt đầu thực hiện chế độ đi phép, đi học. Người đầu tiên của đại đội được đi phép là trung đội trưởng Đậu Minh Tiến, ông cụ thân sinh ra anh bị ốm nặng. Hôm tiễn anh đi phép trong tâm khảm ai cũng thầm mong rồi đến lượt mình, dù mới xa miền Bắc hơn một năm nhưng ai cũng thấy như là đã xa hàng thế kỷ.
Sau khi đã hoàn chỉnh được doanh trại và các rẫy tăng gia thì công việc tiếp theo cần tập trung là làm kỹ thuật. Chắc ý định của trên còn lâu mới dùng đến xe tăng ở chiến trường này nên trung đoàn hạ lệnh phải tổ chức niêm xe ngắn hạn. Thế là trừ chiếc 380 “sứt môi” do có lắp cẩu phải đi phục vụ sửa chữa còn lại tất cả phải niêm. Thực ra đó cũng là những công việc thường xuyên của lính tráng một binh chủng kỹ thuật nên ai cũng tích cực lắm, riêng cái vụ rửa xích là nặng nhọc nhất và ai cũng ớn.
Để rửa xích phải đánh xe ra khỏi hầm rồi cắt xích ra thành từng đoạn ngắn khiêng xuống suối ngâm và cậy cho bằng hết đất đá ra. Sau đó để khô lấy dầu thải bôi vào trông đen bóng như xích mới. Lúc đó phải chặt lau lách về lót đường rồi nối lại xong mới cho xe vào hầm như cũ. Mỗi băng xích là 82 miếng, mỗi xe là 194 miếng, mỗi miếng 12 cân tổng cộng là gần 3 tấn xích một xe. Băng xích được cắt ra mỗi đoạn 5-6 miếng khiêng xuống suối. Lính tăng vốn khoẻ nên nếu bình thường sẽ chẳng vấn đề gì nhưng đằng này tên nào cũng đã qua sốt rét vài bận nên đưa được một đoạn xích xuống suối thằng nào thằng ấy thở cả ra đằng tai. Đại đội quyết định sẽ tập trung cả trung đội làm dứt điểm cho từng xe.
Mới sốt rét dậy Trang và Thọ “đen” được ưu tiên ngồi cậy đất và rửa xích. Một cái tuốc nơ vít sắt để cậy, một cái bàn chải tự tạo bằng tre để cọ hai anh em cứ tẩn mẩn vừa làm vừa nói chuyện suốt ngày. Việc cọ rửa ở mặt mắt xích thì khá dễ dàng, riêng cậy đất trong vú xích ra thì không đơn giản tý nào. Sau hàng nghìn cây số trên đường, đất đá được lèn chặt vào trong hốc lõm của vú xích muốn cậy ra phải dùng búa đóng vào tuốc nơ vít. Đang lẩn mẩn cậy đất Trang vụt nhổm dậy. Thọ cứ tưởng có con gì cắn nhưng không phải, cậu ta đứng ngây mặt ra rồi tần ngần nói:
- Phí quá! Tại sao lại phải cậy nó đi chứ!
Thọ ngạc nhiên:
- Thì phải cậy hết đất đá ra mới niêm được chứ!
Trang vẫn bần thần:
- Cậu có thấy không? Trong mỗi cái vú xích nhỏ nhoi này có dấu ấn của khắp mọi miền đất nước đấy.
Thọ ngồi im ngẫm nghĩ, cậu thấy Trang có lý. Quả thật, từ khi xuất xưởng đến nay mới có người cậy đất đá ra nên trong mỗi cái vú xích này chắc chắn có đất đai của tất cả các vùng quê mà những chiếc xe tăng này đã đi qua, không chừng lại còn đất đá của nước bạn nữa ấy chứ. Thọ reo lên:
- Hay! Dấu ấn mọi miền đất nước ở trong một cái vú xích!
Nhưng nói thì nói vậy, chúng vẫn phải kỳ cạch cậy và rửa cho bằng sạch.

Trong bảy chiếc xe của đại đội thì sáu cái đã được niêm hoàn chỉnh nằm trong lán trông như xe mới, riêng cái 380 của Trang vẫn “cóc cáy” vì có lắp cẩu tự tạo nên phải để làm nhiệm vụ phục vụ sửa chữa trong phạm vi tiểu đoàn .
Hôm nay, xe 380 nhận nhiệm vụ đi lên chỗ xe 388 bị lật để khảo sát tìm cách khắc phục. Đã lâu mới ra đường tuyến. Đường đã được nâng cấp lên nhiều lại được chạy ban ngày, Trang điều khiển chiếc 380 lướt nhanh như như một con chiến mã đang hồi sung sức xuôi đường 14 về phía Nam sân bay A Lưới. Đại đội phó kỹ thuật Phượng và tổ thợ do Độ “còi” dẫn đầu ngồi tất trên tháp pháo ung dung ngắm cảnh vì Trang xử lý giảm xóc tốt lắm. Chưa đầy một tiếng sau xe đã đến chỗ chiếc xe 388 xấu số.
Đây rồi. Đã hơn một năm trôi qua, chiếc xe 388 vẫn nằm như một con rùa tuyệt vọng bị lật ngửa lên. Sau một mùa mưa lau lách đã mọc dày xung quanh xe. Cái hố bom oan nghiệt vẫn toang hoác ngay bên cạnh. Độ chỉ tay về phía một cái gốc cây cụt cách đó vài chục mét:
- Mộ của chúng nó để ở chỗ kia kìa!
Mấy anh em đứng lặng nhìn về hướng tay Độ chỉ, chờ cho cơn xúc động lắng xuống Phượng bảo:
- Làm đi các cậu! Trước hết phải phát quang xung quanh, sau đó lôi nó dậy rồi mới làm tiếp những cái khác được.
Lau lách nhanh chóng được phát quang. Trang cho xe lùi vào sát xe 388, cậu đề nghị nối hai cáp và sẽ kéo ngang cho xe lật lại. Mọi người đều đồng ý vì kéo như thế sẽ có lợi nhất về lực.
Cứ tưởng rất khó khăn nhưng hóa ra việc kéo lật xe 388 lại khá dễ dàng. Nhờ chọn vị trí có lợi nhất về lực nên chỉ sau một cú giật của 380 cái 388 đã chuyển mình và từ từ dựng đứng lên rồi úp sấp lại trong tiếng vỗ tay của tổ thợ.
Nhưng thật đáng tiếc. Chắc là do bị bom hất lên cao rồi quật xuống nên các cụm máy của xe 388 đã bị lệch tâm rất nặng mà khả năng của tiểu đoàn không thể khắc phục được nên Phượng quyết định sẽ tháo tất cả những gì có thể tháo được đem về làm khí tài dự trữ.
Lúc tổ thợ đang làm việc thì Phượng và Trang lò mò đến chỗ cái gốc cây cụt ngọn. Ở đó chẳng còn gì hết ngoài một bãi đất nham nhở những hố bom và lau lách. Hơn một năm đã qua, biết bao trận không kích của B52 và máy bay các loại đã dội xuống chỗ này. Tưởng rằng bốn đồng đội của các anh đã vĩnh viễn nằm lại nơi đây nào ngờ cũng không được yên ổn. Móc bao thuốc lá còn một điếu cuối cùng, Trang châm lửa rít một hơi rồi cắm xuống miệng hố bom thay cho nén hương thắp cho bốn người đồng đội.

Đứng lặng một hồi hai anh em quay về xe, chẳng ai nói với ai một câu nào. 

Xe 380 đi phục vụ sửa chữa

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét