Chủ Nhật, 3 tháng 9, 2017

BÚT KÝ LÍNH TĂNG- HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP- 24


Nhịp sống cứ diễn ra đều đều, quanh đi quẩn lại là: trực chiến, canh gác, bảo dưỡng kỹ thuật, khiêng bình điện đi nạp rồi lại khiêng về, lội rừng “cải thiện”, gùi gạo, sốt rét và đói… trong sự cầm canh, điểm nhịp của bom đạn các loại. Nếu như trước đây ở quanh khu vực đóng quân của đại đội chủ yếu chỉ có bom đạn do máy bay ném xuống thì từ ngày địch chiếm lại được Tà Lương quân ta lại có thêm một món điểm tâm thường xuyên nữa là đạn pháo. Trận địa pháo địch có lẽ đặt ở Động Tranh và Bình Điền thì phải. Còn bắn vào đâu chắc là do bọn ở Tà Lương chỉ điểm. Vì vậy, những điểm nghi vấn xung quanh cứ điểm, đặc biệt là những địa điểm ở dọc đường 12 là được “ăn” pháo thường xuyên nhất. So với các cuộc oanh tạc của các loại phản lực thì thì món đạn pháo này có phần nguy hiểm hơn vì sự bất ngờ của nó. Cũng y như bom tọa độ vậy. Chẳng thấy tiếng máy bay, chẳng nhìn thấy dấu hiệu gì hay quả pháo khói nào cả mà chỉ thấy “oành” một phát là có thể nát một đời trai rồi. Chính vì vậy, đại đội đã chỉ thị cho các bộ phận một mặt phải củng cố hầm hào, mặt khác là hạn chế ra ngoài và hết sức chú ý giữ bí mật. Nói thì dễ song thực hiện không đơn giản chút nào. Để duy trì hoạt động của đơn vị có biết bao việc phải làm. Mà con người ta có phải là chuột chũi đâu mà lúc nào cũng ở trong hang.
Mới chuyển sang đại đội 4 được ít ngày song lái xe Hạnh đã tỏ ra hòa nhập rất nhanh với đơn vị mới. Dân Thái Bình vốn cần cù, chịu khó, chịu khổ đã quen, lại được rèn luyện qua quá trình hành quân chiến đấu với đại đội 3 cũng không kém phần gian khổ, ác liệt nên Hạnh không gặp bất kỳ một sự bỡ ngỡ nào trừ việc phải làm quen với trang bị mới là chiếc xe tăng T59 mà cậu mới chỉ được nhìn thấy vài lần hồi học ở trường. Chính vì vậy, ngoài những công việc khác như tất cả mọi người, Hạnh dành toàn bộ thời gian rỗi rãi để tìm hiểu về người bạn mới của mình. Cũng may, trung đội trưởng Tiến, lái xe Hỏa cũng như các thành viên cũ của xe 381 đều là những tay “cứng cựa” nên đã giúp đỡ được cậu rất nhiều về mặt chuyên môn. Có điều, tất cả những gì cậu được học, được hướng dẫn toàn chỉ là lý thuyết và thực hành “nguội” mà thôi. Điều kiện trú quân bí mật cách địch có vài cây số thì làm sao mà thực hành được cơ chứ. Hạnh lấy làm bực về điều đó lắm nên quyết tâm bù lại bằng cách tăng thời gian thực hành kiểm tra, điều chỉnh và bảo quản, bảo dưỡng trang bị. Nhưng thực ra cậu cũng chẳng có nhiều thì giờ rỗi vì mấy thành viên cũ đều đang sốt rét li bì nên gần như mọi việc “thượng vàng, hạ cám” trong xe đều đến tay của cậu.
Gần trưa hôm ấy, như thường lệ Hạnh xách bộ xoong nồi ra bếp chuẩn bị nấu cơm. Mặc dù đã có bếp Hoàng Cầm song để bảo đảm cho củi cháy thật nỏ không một sợi khói nào, Hạnh cẩn thận rút mấy khúc củi khô trên đống củi dự trữ xuống để bổ nhỏ ra. Cậu vừa làm vừa vui vẻ huýt sáo vì trưa nay có thêm mấy con cá con nấu canh chua, chắc mấy bố sốt rét thích lắm đây. Đúng vào lúc Hạnh rướn người vung chiếc búa bổ củi lên thì một ánh chớp sáng lòa nháng lên ngay bên cạnh. Cậu gục xuống, chiếc búa vẫn cầm trong tay.
Mặc dù sốt rét nặng nằm liệt đã mấy ngày song Hỏa vẫn nghe rõ tiếng Hạnh bổ củi và tiếng huýt sáo của cậu ta. Anh thấy vui vui vì mình có được người phụ tá mới thật tuyệt vời, thật đáng tin cậy. Tiếng nổ bất ngờ và làn sóng xung kích dội vào hầm như bão đã làm anh giật bắn mình. Anh thót tim lo cho Hạnh. Dồn hết sức tàn, Hỏa thều thào:
- Hạnh ơi, vào hầm đi!
Không một tiếng trả lời. Nhìn quanh chẳng thấy ai. Trung đội trưởng Tiến thì đi họp, còn mấy tên kia chắc cố mò sang hầm đại trưởng nghe ké đài vì dạo này đang chộn rộn chuyện ký kết hiệp định ở Paris. Hỏa cố nhoài người ra phía cửa hầm và nhìn về phía bếp. Anh choáng người khi thấy Hạnh nằm sóng soài bên cạnh mấy cái xoong bẹp dúm. Đáng sợ là đầu cậu ta đã nát bươm và biến dạng hoàn toàn. Quờ tay lấy khẩu súng AK bên cạnh, Hỏa ráng sức mở khóa an toàn và bắn liền ba phát báo “cấp cứu”. Bắn xong, anh tựa vào thành hầm thở dốc và lịm đi.
Cái chết của Hạnh như một lời nhắc nhở đối với tất cả đại đội về sự nguy hiểm của loại vũ khí này. Một loạt chỉ thị được đưa ra. Một số quy định được nhắc lại. Quả là mọi người trong đơn vị đã ý thức rõ hơn về tình hình mọi mặt. Song dẫu có biện pháp đến đâu thì cái gì đến nó vẫn đến. Chỉ vài ngày sau, pháo thủ Căn, cậu chàng suốt ngày nghêu ngao “Anh vẫn còn chân, chưa bị cưa chân nào…” đã mất một chân cũng do pháo chụp. Tình hình trong đại đội trở nên rất căng thẳng.

 Sự căng thẳng đó chỉ chùng đi vào những ngày cuối tháng Mười khi có tin Hiệp định Paris sắp được ký kết. Những ngày này lúc nào chính trị viên Đán cũng ôm khư khư cái đài Xương-mao, anh nghe bằng hết các bản tin rồi chọn lọc để thông báo cho đại đội. Tối đến các xe bên cạnh cũng sang túm tụm ở 390 để ngóng tin tức. Nói gì thì nói nếu Hiệp định được ký kết cuộc sống của họ sẽ có những thay đổi rất lớn lao. Nhưng rồi qua 31 tháng Mười, hội nghị Paris có vẻ như không đi đến kết quả cuối cùng ai cũng nản. Mấy tay tham mưu con thì bàn ra tán vào: “cứ nằm lì một chỗ thế này, không “oánh” cho mạnh vào đời nào nó chịu ký”. Nói vậy nhưng trong thâm tâm ai cũng le lói một niềm hy vọng.
Về phía đối phương sau khi chiếm được Tà Lương chúng cũng đã nống ra một vài lần nhưng bị ta kiên quyết đánh chặn nên lại lui về. Chúng đã tranh thủ thời gian xây dựng Tà Lương thành một cứ điểm hết sức vững chắc, hy vọng biến nơi đây thành một tiền đồn bất khả xâm phạm trong tuyến phòng thủ phía Tây thành phố Huế.
Đã sang cuối mùa mưa nên các cơn mưa cũng thưa thớt dần, mỗi ngày cũng được đôi ba tiếng le lói ánh mặt trời. Con sông Bồ cũng đỡ hung hãn hơn, mấy tay “sát cá” đã bắt được đôi ba con chình, những vạt rau dớn, rau sam ngập nước nay đã trồi lên mạnh mẽ, những bụi tre cũng đẻ nhiều măng hơn. Cái đói gạo cơm được khỏa lấp bằng măng rừng, hoa chuối cũng đỡ cồn cào trong bụng. Cao trào sốt rét cũng đã qua, giờ cả đại đội cũng chỉ còn lác đác vài người đang ốm nên cuộc sống của những người lính “xê Bốn” cũng đỡ vất vả hơn. Pháo hai Cát trong một đêm nằm trên vọng cảnh giới còn bắn được cả một con beo nhưng ai cũng kêu thịt nó vừa hôi vừa dai.
Cuộc sống thường nhật của đại đội lại một lần xao động khi nghe tin Mỹ đánh Hà Nội, Hải Phòng bằng B52. Đã từng chứng kiến sức tàn phá của bom rải thảm nên ai cũng lo lắng: “thành phố đất chật người đông như thế mà nó đem B52 ra đánh thì ai mà sống được?”. Tất cả chỉ thở phào nhẹ nhõm khi biết tin ta đã kịp cho nhân dân đi sơ tán nên thiệt hại không lớn lắm, và niềm vui vỡ oà khi đài đưa tin Mỹ đã ngừng ném bom và chịu ngồi lại vào bàn để ký Hiệp định Paris.
Dẫu Hiệp định Paris chưa chính thức có hiệu lực nhưng đối với những người lính đang sống ở chiến trường thì đây như một liều thuốc bổ cực mạnh, ngoài cái vui chung trong niềm vui của toàn dân tộc thì trong sâu thẳm mỗi người đều le lói hy vọng “sẽ sống trở về”. Từ nay họ sẽ không phải đối mặt với tên đế quốc hàng đầu mà sức mạnh của nó thì ai cũng đã biết. Từ nay họ sẽ không phải chui rúc suốt ngày trong những căn hầm như những con chuột. Máy bay, phi pháo của ngụy còn nhưng so sao được với của Mỹ ngày xưa… Quả thật, từ hôm đó thấy vắng hẳn tiếng OV10 ban ngày và những loạt “tọa độ” giữa đêm khuya. Mối đe dọa đối với họ bây giờ chủ yếu là những loạt pháo bất ngờ.
Niềm vui còn được nhân lên gấp bội khi những lá thư đầu tiên mà đại đội nhận được sau hơn một năm trời kể từ ngày rời khỏi Xuân Mai. Thật là xúc động, những lá thư đã rong ruổi khắp các nẻo đường để đuổi theo họ, có những lá viết từ cuối năm ngoái theo địa chỉ của đại đội từ hồi ở Quảng Bình. Một không khí mới đang ngập tràn trong đại đội, những gương mặt võ vàng vì sốt rét như tươi tỉnh hơn lên. Đó đây véo von tiếng hát, tiếng cánh lính trẻ trêu chọc nhau. Nghiêm nghị như chính trị viên Đán mà thỉnh thoảng còn hứng chí chúm môi huýt sáo. Bọn Tráng, Nguyên huých nhau cười: “nghe như chính trị viên đang rít điếu cày”.
Tuy nhiên, niềm vui của họ không được mấy ngày: tiểu đoàn truyền đạt mệnh lệnh của quân khu là phải tăng cường sẵn sàng chiến đấu để chống “lấn chiếm”, kẻ địch sẽ lợi dụng cơ hội này để mở rộng vùng kiểm soát trước giờ Hiệp định có hiệu lực. Mà thật vậy, bọn địch ở Tà Lương hình như đã được tăng quân, thỉnh thoảng chúng cũng cho một tốp ra thăm dò nhưng bị ta chặn đánh quyết liệt lại lui về cứ điểm. Nếp sống sẵn sàng chiến đấu cao được thiết lập, các công việc khác tạm gác lại, riêng vọng cảnh giới và các chốt gác được tăng cường 24/24 giờ, xe máy vũ khí được kiểm tra thường xuyên.
Càng đến gần ngày 28 tháng giêng năm 1973, ngày Hiệp định Paris có hiệu lực không khí càng căng thẳng, đại đội cũng nhận được lệnh đi trinh sát Tà Lương để sẵn sàng tiến công khi có thời cơ. Trong đại đội có nhiều tiếng xì xào: “cứ chửi nó lấn chiếm sao mình lại cũng lấn chiếm”. Ban chỉ huy đại đội hội ý rồi quyết định sinh hoạt với từng trung đội để “quán triệt” vấn đề này.
Buổi họp ở trung đội Một, sau khi đại đội trưởng Thận phổ biến nhiệm vụ và hỏi ai có ý kiến gì không thì Hợp “vâu”, gọi thế vì nó có hàm răng vổ vào loại nhất đại đội có ý kiến:
- Theo như chúng tôi được phổ biến về nội dung Hiệp định là: sau khi Hiệp định đã ký thì hai bên phải giữ nguyên hiện trạng, tại sao giờ lại nói là phải đánh, như vậy chẳng hóa ra ta vi phạm hiệp định à?.
Quả thật, đây là một câu hỏi khá “hắc búa” và cũng là suy nghĩ chung của nhiều người, nếu không giải quyết tốt thì việc hoàn thành nhiệm vụ sẽ gặp khó khăn. Tuy nhiên, do đã lường trước được vấn đề nên chính trị viên Đán đã nhanh chóng trả lời:
- Như chúng ta đều biết, mục tiêu của cuộc chiến đấu của chúng ta là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, sau khi ký hiệp định Paris chúng ta mới chỉ thực hiện được phần đầu của mục tiêu là “đánh cho Mỹ cút” còn ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn vẫn còn đấy, chúng ta vẫn phải tiếp tục chiến đấu để tiêu diệt chúng để đi tới đích cuối cùng.
Dừng lại một chút cho mọi người “ngấm” sức nặng của câu nói Đán tiếp:
- Mà các đồng chí thấy đấy, bọn ngụy đâu có chịu chấp hành nghiêm, từ hôm đó đến nay chúng đã liên tục vi phạm hiệp định trên khắp miền Nam. Ngay cả ở đây thôi chúng cũng đã nống ra mấy lần. Nếu ta cứ thụ động chấp hành thì có khi nó lấn ra đến tận đây rồi ấy chứ; có phải thế không các đồng chí?- Anh nhìn quanh một lượt rôì chú mục vào Hợp “vâu”, thấy mọi người có vẻ đã chịu anh nhấn mạnh- Vì vậy, chúng ta không còn cách nào khác là phải tiếp tục đánh mà trước mắt là Tà Lương này.

Không ai có ý kiến gì khác, cả ở “bê Hai” cũng vậy. Từ hôm ấy toàn đại đội chuyên chú vào việc chuẩn bị đánh Tà Lương. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét