Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

NHỮNG CHIẾN XA 5 CHA, 3 MẸ- CHUYỆN CHỈ CÓ Ở VIỆT NAM

Những xe tăng thiết giáp "5 cha 3 mẹ": Chuyện chỉ có ở Việt Nam!
Xe tăng M-41. Ảnh minh họa.

Không mấy ai biết trận đánh mở màn chiến dịch Nguyễn Huệ lại được thực hiện bởi một đại đội tăng thiết giáp với những chiến xa “5 cha, 3 mẹ” tăng cường cho Trung đoàn BB 271.


Chiến dịch Nguyễn Huệ là chiến dịch do Quân Giải phóng Miền Nam tiến hành năm 1972 tại miền Đông Nam Bộ. Chiến dịch được mở đầu bằng trận tiến công Xa Mát ngày 01.4.1972.
Xa Mát là một cứ điểm của quân VNCH trên đường 22 cách biên giới Việt Nam - Căm pu chia chưa đầy 2 km. Tại đây địch bố trí một tiểu đoàn thiếu, có công sự phòng ngự kiên cố.
Chỉ cách Thiện Ngôn khoảng 5km nên Xa Mát trở thành cứ điểm án ngữ sự xâm nhập của lực lượng chủ lực ta đối với Chi khu Thiện Ngôn và cả hệ thống phòng ngự dọc đường 22 bảo vệ tỉnh lỵ Tây Ninh.
Đây là hướng nghi binh của chiến dịch nên trận tiến công Xa Mát được BCH chiến dịch quyết định cho nổ súng đầu tiên nhằm đánh lạc hướng quân địch. Lực lượng tiến công Xa Mát là Trung đoàn BB 271 được tăng cường Đại đội TTG 33.
Lai lịch những chiến xa của Đại đội 33
Đại đội TTG 33 của Đoàn Đặc công cơ giới Miền được thành lập ngày 03.3.1971, có nhiệm vụ thu hồi xe chiến lợi phẩm của địch để đánh địch. Sau 1 năm thực hiện nhiệm vụ, đơn vị đã thu được 7 xe TTG địch đưa về khôi phục.
Tuy nhiên, trong 7 xe đã thu hồi chỉ có 4 chiếc có thể nổ máy được. Mặc dù vậy, 4 chiếc này cũng thuộc 4 chủng loại khác nhau và không chiếc nào hoàn chỉnh cả bởi khi địch đã bỏ xe lại chạy chúng thường phá hủy các loại vũ khí, khí tài trên xe.
Hiện đại nhất trong 4 xe này là chiếc xe M41-1A số hiệu 026M do Mỹ chế tạo thu được trong chiến dịch “Toàn thắng 1-71”. Tuy nhiên, kính ngắm của xe này đã bị phá hủy nên muốn bắn pháo phải ngắm qua nòng hoặc kính mặt bằng.
Thứ hai là chiếc M24 cũng do Mỹ chế tạo (đã viện trợ cho Pháp sử dụng tại Điện Biên Phủ) nhưng pháo không có kim hỏa nên vũ khí chính là khẩu đại liên M50 trên tháp pháo và đại liên M30 song song bên pháo.
Về động cơ xe này cũng có vấn đề nên chỉ chạy được chừng 30 phút là “ì” ra, phải dừng xe tắt máy chờ động cơ nguội mới tiếp tục chạy được.
Thứ ba là chiếc M51 do Pháp chế tạo (tên cúng cơm của loại xe này là AMX13-75). Chiếc xe này pháo không có khóa nòng nên chỉ sử dụng được khẩu đại liên 7,62 mm mà thôi.
Thứ tư là chiếc xe bọc thép bánh lốp AM8 nhưng bộ lốp của nó rất yếu. Ba chiếc xe đời cũ này thu được trong trận chống càn “Chen La 2” đầu năm 1971.
Còn một vấn đề nữa là các phương tiện liên lạc trên 4 chiếc xe này đều đã bị phá hủy hoàn toàn không sử dụng được nữa, kể cả liên lạc nội bộ. Mặc dù vậy, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 33 không chùn bước, quyết tâm tìm mọi cách để hoàn thành nhiệm vụ trên giao.

Xe M-24 do Mỹ chế tạo. Ảnh minh họa.
Xe M-24 do Mỹ chế tạo. Ảnh minh họa.
Cái khó không bó được cái khôn
Khó khăn đầu tiên mà Đại đội TTG 33 phải khắc phục là tổ chức cơ động từ căn cứ Tà Pao đến vị trí tập kết chiến đấu ở Phum Chi Mun trên đoạn đường dã chiến hơn 100 km trong điều kiện phải giữ bí mật cao độ trong khi tình trạng kỹ thuật của xe máy rất tồi tệ.
Các xe thường xuyên phải cứu kéo lẫn nhau để vượt qua những địa hình phức tạp, lại phải vừa đi vừa đợi nhau, vừa xóa vết xích nên tốc độ rất chậm. Ngoài ra, việc tiếp tế nhiên liệu cũng gặp rất nhiều khó khăn.
Giữa chiến trường không có phương tiện chuyên dùng, các chiến sĩ vận tải phải dùng xe bò chở xăng dầu trong các can nhựa bố trí sẵn ở một số điểm trên đường cơ động, khi xe đến chỉ dừng ít phút là bổ sung kịp thời.
Với quyết tâm khắc phục khó khăn rất cao, cán bộ chiến sĩ Đại đội TTG 33 đã đưa được 3 xe đến vị trí quy định chỉ cách địch có hơn 3 km mà chúng vẫn không phát hiện ra. Riêng chiếc thiết giáp bánh lốp AM8 phải bỏ lại dọc đường vì toàn bộ lốp bị hỏng.
Để khắc phục tình trạng không có phương tiện thông tin liên lạc nội bộ các kíp xe áp dụng những ký tín hiệu đơn giản như: thúc vào lưng là cho xe tiến, vỗ lên đỉnh đầu thì dừng lại, kéo vai bên nào thì chuyển hướng (hoặc quay pháo) về bên đó...

Xe M51 do Pháp chế tạo (tên cúng cơm là AMX13-75)
Xe M51 do Pháp chế tạo (tên cúng cơm là AMX13-75)
Còn liên lạc giữa các xe với nhau và giữa xe tăng với bộ binh thì chủ yếu là hiệp đồng chặt chẽ đến từng chi tiết trên bàn cát, trong trận đánh thì quan sát hành động của bạn để ra quyết định cho phù hợp.
Riêng trong đại đội thì xe M41 sẽ xung phong đầu tiên, các xe khác quan sát xe M41 để hành động.
Đối phó với tình trạng vũ khí không đồng bộ và thiếu khí tài, cán bộ chiến sĩ trong từng kíp xe xác định: có trong tay vũ khí nào cũng phải phát huy tính năng của chúng một cách tối đa.
Xe M41 không có kính ngắm thì khi ở xa sẽ ngắm qua nòng để bắn, khi đã đến gần mục tiêu chỉ cần ngắm “áng chừng” qua kính mặt bằng cũng sẽ đảm bảo tương đối chính xác.
Các xe khác có súng gì dùng súng nấy song tất cả các xe khi xung phong đều phải rồ ga thật to để áp đảo tinh thần binh sĩ địch.
4 giờ sáng ngày 01.4.1972, quân ta bắt đầu nổ súng tiến công.

Xe bọc thép bánh lốp AM8. Ảnh minh họa.
Xe bọc thép bánh lốp AM8. Ảnh minh họa.
Theo đúng hiệp đồng, sau khi pháo binh chuyển làn 3 xe tăng của Đại đội 33 dũng mãnh dẫn dắt bộ binh xung phong. Các xe vừa phát huy mọi loại vũ khí trên xe bắn vào cứ điểm địch vừa rồ ga thật to theo như kế hoạch.
Đặc biệt, khi đã xung phong qua cửa mở, khoảng cách đến các lô cốt, công sự bắn... của địch chỉ còn rất nhỏ- chừng vài chục mét- khẩu pháo của chiếc M41 bắn rất chính xác, cứ nổ súng là lô cốt địch tung lên.
Các xe khác vừa bắn súng máy, vừa dùng xích sắt chèn lên công sự, vũ khí của địch.
Thấy xe tăng ta bất ngờ xuất hiện, lính địch hết sức hoảng loạn, tinh thần quân địch nhanh chóng suy sụp. Trên đài VTĐ ở Sở chỉ huy nghe rõ tên chỉ huy cứ điểm Xa Mát báo cáo: “Việt Cộng có xe tăng. Xin chỉ thị thượng cấp!”.
Tên chỉ huy chi khu Thiện Ngôn trả lời: “Nếu VC có xe tăng thì được thực hiện phương án hai (rút lui). Còn không phải như vậy thì mai mời ông ra Tòa án binh!”. Ngay lập tức, bọn địch trong cứ điểm lục tục bỏ chạy, quân ta nhanh chóng làm chủ trận địa.
Vậy là những chiến xa “năm cha, ba mẹ” đã góp công lớn vào trận đánh mở màn chiến dịch Nguyễn Huệ. Và có lẽ chuyện này chỉ có thể xảy ra ở Việt Nam.
Nguồn: http://soha.vn/quan-su/nhung-xe-tang-thiet-giap-5-cha-3-me-chuyen-chi-co-o-viet-nam-20151116171516421.htm

CHUI VÀO LÕI RỪNG CÚC PHƯƠNG- 2010

Tháng 12 năm 2010, mấy anh em rủ nhau xa chốn thị thành chui vào tận lõi rừng QG Cúc Phương. Nơi đây không chỉ ko có người mà còn ko có cả sóng ĐT, intenet, chỉ có thiên nhiên hoang dã mà thôi... Thật sự là thư giãn!- Ghi chú: Ảnh chọn của cả nhóm!



Phút dừng chân



Hành quân vào lõi rừng







Bốn anh em TS (Xuân Tùng), Tuấn Bim,  Khắc Việt và KN dưới gốc cây sấu ngàn năm. Nghe nói cây sấu này đa bị đổ.



Trốn tìm



Nghỉ chân bên gốc cây sấu ngàn năm



Cùng BCĐ Khắc Việt trước ngôi nhà nghỉ



TT NH Thành bên cây chò ngàn năm



Động "Người xưa"




CẢM TÁC NGÀY XUÂN



Nhà nhà vui xuân, đón Tết
Chúc nhau hạnh phúc, an khang
Có ai nhớ về người lính
Vẫn đang bên súng sẵn sàng


Đời lính là như thế đó
Vì cuộc sống của nhân dân
Vì bình yên cho Tổ quốc
Sá gì sương gió, gian truân.


Kể cả nếu cần phải chết
Các anh nào có sá đâu
Chỉ cần những người còn sống
Hãy xây đất nước mạnh giàu!



Mồng Một Tết Ất Mùi- 2015


BÃO THÉP 2- ÁP THẤP ĐƯỜNG SỐ CHÍN- Kỳ 14


        Đến Bộ tư lệnh mặt trận việc đầu tiên mà chính ủy Võ làm là hỏi tin tức của mấy anh em trợ lý đi cùng quyền tư lệnh Đào. Ông thở phảo nhẹ nhõm khi biết không ai vệc gì vì lúc ấy họ đang ở hầm khác, tất cả vẫn đang ở lại sở chỉ huy dự bị của chiến dịch để chuẩn bị cho trận đánh tiếp theo.
          Tư lệnh quân tình nguyện đón chính ủy Võ bằng vẻ mặt hơi buồn, ông ngậm ngùi:
          - Thật không may! Trận đánh vừa mới bắt đầu được vài phút thì sở chỉ huy đã bị trúng bom. Cả hầm hy sinh và bị thương gần hết. May là anh Đào và anh Hữu chỉ bị thương. Đêm nay máy bay trực thăng ở bên nhà sẽ sang đón các anh ấy về 108 điều trị, không biết có kịp không?- Ông chuyển sang giọng vỗ về- Thôi anh ạ! Chiến tranh mà, bom đạn nó có tránh ai đâu. Từ hôm nay anh sẽ thay anh Đào làm đại diện xe tăng tại sở chỉ huy chiến dịch. Rất mong anh động viên bộ đội phát huy kết quả thắng lợi trận đánh vừa qua để hoàn thành mục tiêu của chiến dịch.
          Chính ủy Võ vội trả lời:
          - Anh cứ yên tâm! Về ý định sử dụng xe tăng của 195 trong chiến dịch này anh Đào đã phổ biến cho tôi từ trước nên tôi đã nắm chắc rồi, chúng tôi sẽ dựa vào đó và căn cứ tình hình thực tế để thực hiện.
          Tư lệnh quân tình nguyện gật đầu:
          - Vì bọn địch đang hoang mang sau khi ta giải phóng Noọng Pẹt nên chúng tôi dự định nổ súng tiến công Cánh Đồng Chum chậm nhất là đêm 17 rạng sáng 18 tháng Hai. Vì vậy đề nghị anh thu xếp để xuống sở chỉ huy chiến dịch ngay. Tôi sẽ cho người dẫn đường.
          Chính ủy Võ đứng dạy:
          - Vậy tôi xin phép về để chuẩn bị lên đường.
          Mặc dù là một cán bộ chính trị nhưng Võ đã được đào tạo rất cơ bản về xe tăng tại nước ngoài nên công việc chỉ huy xe tăng chiến đấu cũng không quá xa lạ đối với anh. Đã đi theo cùng đơn vị từ bên nhà sang đến đây nên anh biết tình hình tư tưởng, ý chí quyết tâm của bộ đội cũng như tình trạng kỹ thuật của trang bị rất tốt. Điều duy nhất làm anh lo lắng nhất bây giờ là việc trinh sát nắm địa hình và địch của các đơn vị còn khá sơ sài, chủ yếu là trên bản đồ và quan sát từ xa. Mà ở đây chiều sâu phòng ngự của địch khá lớn nên chắc chắn quá trình tiến công vào trung tâm sẽ gặp nhiều khó khăn. Vừa đi anh vừa tính toán những giải pháp tốt nhất để khắc phục tình trạng trên nên cảm thấy quãng đường đến sở chỉ huy chiến dịch dường như rất ngắn.
          Sở chỉ huy chiến dịch lần này được đặt trong một hang núi gần Bản Ang, nơi có nhiều chum đá nhất ở đây. Hình như hang núi này là nơi người bản địa ở đây dùng để tiến hành các nghi lễ trước khi mai táng người chết nên còn khá nhiều những di vật liên quan đến tế lễ và xương người. Vốn là người không mê tín nhưng chính ủy Võ vẫn lầm rầm:
          - Cầu mong linh hồn các bậc tiền nhân phù hộ độ trì cho con cháu nhanh đánh đuổi hết bọn xâm lược và phản động ra khỏi đất nước này.     
          Được tin chính ủy Võ thay quyền tư lệnh Đào đã có mặt tại sở chỉ huy mấy trợ lý vội đến gặp, mấy anh em tay bắt mặt mừng. Chính ủy Võ bắt tay từng người rồi thân mật:
          - Thôi, các cậu ạ! Trong cái rủi có cái may, mấy anh em cậu không ai việc gì là tốt rồi, còn anh Đào cũng chỉ bị thương. Đêm nay máy bay sẽ sang đón anh ấy về bên nhà điều trị, các cậu cứ yên tâm.
          Trợ lý Phùng vẫn băn khoăn:
          - Lúc thủ trưởng Đào bị tôi thấy nặng lắm, cả một nửa người bên trái từ đầu xuống đến chân bê bết máu
          Võ vội trấn an:        
          - Trước khi xuống đây tớ đã kịp vào bệnh viện dã chiến thăm anh ấy, cũng không nặng lắm đâu, chắc sẽ qua khỏi thôi- Võ giấu biệt tình trạng rất xấu của quyền tư lệnh Đào.
          Tư lệnh chiến dịch cho người xuống mời Võ đến gặp. Vừa gặp nhau anh đã thông báo rất ngắn gọn:
          - Trên đã quyết định 2 giờ sáng mai ta sẽ nổ súng. Rất may là anh đã đến kịp.
          Võ bắt tay người đồng đội mới, anh gật đầu:
          - Đồng chí tư lệnh mặt trận đã cho tôi biết rồi. Bên tôi anh em cũng đã sẵn sàng, chỉ chờ lệnh của chiến dịch mà thôi.
          Tuy nhiên trận đánh đã không diễn ra theo đúng kế hoạch. Khi xe tăng đang cơ động theo đường số Bảy thì vẫn còn giữ được liên lạc với sở chỉ huy. Qua làn sóng điện Võ biết đại đội 1 đang bị máy bay địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt song vẫn vừa dùng 12 ly 7 bắn máy bay vừa cơ động đến vị trí điều chỉnh. Nhưng rồi từ đó trở đi thì trong tai nghe chiếc đài 2 oát không còn nghe thấy gì ngoài những tiếng rào rào, xẹt xẹt. Áp chặt cái tổ hợp vào tai Võ hy vọng sẽ nghe được một cái gì đó ngoài những tiếng rào nhưng vô vọng, lòng anh nóng như lửa đốt. Các trợ lý bên cạnh cũng vậy, tất cả nín lặng dõi theo từng thay đổi nhỏ trên gương mặt người chỉ huy. Nhìn đồng hồ đã gần đến giờ nổ súng Võ lắc đầu:
          - Vẫn không có tín hiệu gì cả! Chẳng lẽ lại bị... – Anh bỏ dở câu nói.
          Trợ lý Phùng phán đoán:
          - Lần cuối cùng nghe thấy tín hiệu là lúc đại đội đã gần đến vị trí điều chỉnh rồi. Chỗ đó hơi thấp so với xung quanh nên khá an toàn, nhưng có lẽ vì thấp quá nên rơi vào vùng chết, sóng cực ngắn không liên lạc được. Thủ trưởng cứ bình tĩnh đợi xem thế nào!
          Đã quá giờ nổ súng theo hiệp đồng mà vẫn không thấy động tĩnh gì. Sở chỉ huy cũng không liên lạc được với trung đoàn bộ binh trên hướng chủ yếu, chắc là đường dây hữu tuyến đã bị máy bay địch đánh đứt. Bây giờ chỉ còn trông vào hiệp đồng của các đơn vị mà thôi. Tất cả hầu như bất lực!
          2 giờ 35 phút, một loạt tiếng nổ dậy lên ở trung tâm Cánh Đồng Chum. Có vẻ như pháo binh mặt trận đang bắn chuẩn bị. Không khí sở chỉ huy chiến dịch sôi động hẳn lên. Tuy nhiên liên lạc với các hướng đều vẫn chưa khôi phục được.
          Võ vẫn áp chặt tổ hợp vào tai, mắt anh bỗng sáng rực lên:
          - Thấy tín hiệu rồi! Đại đội 1 đã bắt đầu xung phong.
          Cả sở chỉ huy xúm lại bên chiếc đài 2 oát. Chính ủy Võ hét vào tổ hợp:
          - Sở chỉ huy gọi 01! Báo cáo tình hình cụ thể về ngay!
          Từ trong tai nghe của tổ hợp vang lên những tiếng nói bập bõm, rời rạc:
          - 01 báo cáo! Trên đường cơ động... bị... đánh cháy ... xe. Còn 4 xe...- Tiếng nói bỗng tắt lịm đi.
          Chính ủy Võ vẫn áp cái tổ hợp vào tai, miệng thông báo cho mọi người:
          - “Xê Một” báo cáo trên đường cơ động bị máy bay đánh cháy 2 xe, còn 4 xe nhưng lại “tịt ngóp” rồi.
          Mấy anh em lại nghển cổ nhìn ra ngoài. Từ khu vực sân bay vang lên đủ loại tiếng nổ, chủ yếu là tiếng súng bộ binh của địch. Nhưng trong cái mớ âm thanh hỗn độn ấy vẫn nghe vang lên tiếng pháo 76 ly trầm đục và những loạt trọng liên 12 ly 7 đanh chắc. Phùng đoán:
          - “Xê Một” đang đánh vào sân bay rồi. Các anh có nghe tiếng pháo và 12 ly 7 không?
          Bỗng trong tai nghe lại vang lên tiếng nói gấp gáp của chính trị viên đại đội Nguyễn Huy Cậy, trưởng xe 514:
          - 14 báo cáo sở chỉ huy! 3 xe đã bị mìn ở ngoài hàng rào, còn một mình 14 đã vào trong cứ điểm. Xin chỉ thị!
          Trong lòng chính ủy Võ rối như tơ vò: chỉ còn một xe của chính trị viên phải đối mặt với một lực lượng địch lớn gấp nhiều lần, lệnh cho anh em đánh tiếp thì cầm chắc đến chín phần hy sinh, chỉ còn một phần sống. Nhưng không đánh nữa thì sẽ không hoàn thành nhiệm vụ. Võ bóp công tắc phát hỏi lại:
          - Sở chỉ huy gọi 14! Có bắt được liên lạc với bộ binh không? Có những ai đi cùng 14?
          Tai nghe lặng đi một lát rồi lại vang lên tiếng của chính trị viên Cậy:
          - 14 báo cáo! Không bắt được liên lạc với bộ binh. Trên xe hiện có 4 chiến sĩ công binh và 1 chiến sĩ Pa- thét Lào. Vũ khí tốt, đạn còn nhiều, có thể tiếp tục chiến đấu được! Báo cáo hết!
          Võ đứng lặng đi suy nghĩ. Chợt nhớ đến trận Tà Mây chỉ có một xe 555 vào được cứ điểm mà cũng làm địch hoảng sợ phải bỏ chạy anh đi đến một quyết định táo bạo:
          - Sở chỉ huy gọi 14! Tiếp tục chiến đấu. Phát huy cả hỏa lực và xung lực để diệt địch! Nhận đủ trả lời!
          Từ trong tai nghe vang lên giọng Cậy nhanh và dứt khoát:
          - 14 nhận đủ!
          Những tiếng nổ của pháo 76 ly và trọng liên 12 ly 7 lại vang lên từng chặp. Tiếng súng các loại của địch bắn trả điên cuồng. Trên trời một tốp máy bay lại xuất hiện, chúng tung ra hai quả pháo sáng và liên tục nhào xuống cắt bom, bắn đại liên. Trận chiến đấu kéo dài cho đến gần sáng, chợt trong tai nghe tổ hợp lại vang lên tiếng nói nhưng không phải tiếng chính trị viên Cậy:
          - Báo cáo! Xe trúng đạn, chính trị viên Cậy bị thương. Địch đã bỏ chạy gần hết! Xin chỉ thị!
          Chính ủy Võ bóp công tắc phát hối hả:
          - Sở chỉ huy gọi 14! Xe còn chạy được không? Đạn còn không? Đồng chí là ai?
          Tiếng trả lời:
          - 14 báo cáo! Xe pháo còn tốt, đạn còn hơn chục viên, tôi là Thản kỹ thuật viên đại đội. Bọn địch đang hoảng loạn, xin phép cho chúng tôi tiếp tục truy kích!
          Võ hơi bối rối: chỉ còn một xe, đạn gần hết, trưởng xe lại bị thương, đánh nữa sẽ hết sức nguy hiểm. Nhưng đây cũng là một thời cơ hiếm có, bỏ qua chưa biết đến khi nào mới lặp lại. Anh kiên quyết:
          - Sở chỉ huy gọi 14! Tiếp tục truy kích địch! Nhận đủ trả lời!
          Từ tai nghe tổ hợp vang lên:
          - 14 nhận đủ!
          Lại những tiếng nổ loạn xạ vọng về. Một lúc sau tiếng Thản vang lên trong tổ hợp:
          - 14 báo cáo! Địch đã rút chạy hết khỏi khu trung tâm! Xin chỉ thị!
          Võ mừng rỡ. Ngay lập tức anh hét vào ống nói:
          - 14 rời khỏi trận địa về Bản Len! Chú ý ngụy trang tránh máy bay địch. Nhận đủ trả lời!
          Tiếng trả lời vọng về rất nhanh:
          - 14 nhận đủ!
          Võ dứt cái tổ hợp ra khỏi đầu, anh thở ra một hơi dài. Trong sở chỉ huy mọi người cùng thở phào nhẹ nhõm.
          Diễn biến tiếp theo của trận đánh thật không ai ngờ tới: ngay sáng hôm sau hàng đoàn máy bay lên thẳng kéo tới bốc hết tàn quân bay thẳng về Long Chẹng. Cánh Đồng Chum được giải phóng hết sức bất ngờ. Có lẽ chúng sợ quân ta sẽ mở đợt tiến công tiếp theo ngay đêm đó nên rút trước là hơn. Tư lệnh chiến dịch bắt tay Võ:
          - Xin cảm ơn các anh! Tôi thật không ngờ chỉ một cái xe tăng mà làm cho địch hoảng sợ đến vậy.
          Võ gật gật đầu nhưng không nói gì. Anh biết rằng lúc này mà mở miệng nhất định anh sẽ không dừng lại được: bộ binh của các anh ở đâu mà để xe tăng chúng tôi đơn độc chiến đấu? Còn công binh ở đâu mà không dò gỡ mìn để đến nỗi ba xe tăng bị hỏng ngay ngoài hàng rào? v.v... và v.v....
          Câu hỏi đó còn trở đi trở lại mãi trong đầu Võ. Như vậy vấn đề hiệp đồng chiến đấu giữa bộ binh, công binh với xe tăng vẫn còn là một vấn đề nan giải. Tuy nhiên trận đánh này cũng chứng tỏ một điều: xe tăng nếu được tăng cường một lực lượng thích hợp đi cùng thì hoàn toàn có thể độc lập tác chiến được.


TRẬN ĐÁNH ĐẶC BIỆT CỦA BỘ ĐỘI TTG LÀO

Xe tăng thiết giáp của Lào tác chiến cũng không hề kém!

Lực lượng vũ trang Cộng hòa DCND Lào khá khiêm tốn từ phòng không - không quân cho tới lục quân, trong đó có xe tăng - thiết giáp. Tuy vậy, họ cũng có một trận đánh khá đặc biệt.

Đặc biệt - trước hết bởi đó là trận đánh đầu tiên của Bộ đội Xe tăng - thiết giáp (TTG) cách mạng Lào và còn một điều nữa là trận đánh đó do những người anh em Lào - Việt chung sức làm nên.
Truân chuyên những chiếc xe tăng trên đất nước Triệu Voi
Tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt là truyền thống quý báu, lâu đời của quân dân hai nước Việt Nam và Lào đã được thử thách qua một quá trình lịch sử lâu dài.
Phát huy truyền thống đó, khi bản thân mình mới chỉ có 1 trung đoàn xe tăng - Trung đoàn 202, song chúng ta vẫn san sẻ cho bạn 1 tiểu đoàn.
Đó là vào cuối năm 1961, được lệnh của trên, Trung đoàn xe tăng 202 đã tổ chức 1 tiểu đoàn xe tăng bơi nước (trang bị xe PT-76) do Đại úy Trần Nam và Thượng úy Đỗ Văn Xảo chỉ huy sang chi viện cho bạn.
Lúc này, chính phủ cầm quyền ở Vương quốc Lào là chính phủ liên hiệp ba phái và đây được coi là đơn vị xe tăng đầu tiên của Quân đội Vương quốc Lào.
Tuy nhiên, sau khi phái hữu tiến hành đảo chính chính phủ liên hiệp ba phái bị vỡ 2 lần và lưc lượng Neo Lào Hắc Xạt do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông rút về chiến khu thì số xe tăng này vẫn nằm trong tay quân đội phái hữu.
Đáng tiếc là những xe tăng này đã trở thành vũ khí chống lại chính những người yêu nước Lào.
Giữa năm 1964, chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng kết thúc. Quân đội cách mạng Lào (Pathét Lào) với sự giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam đã đánh đuổi được quân phái hữu ra khỏi khu vực Cánh đồng Chum.
Ta và bạn đã thu được nhiều chiến lợi phẩm, trong đó có 22 xe tăng.
Theo yêu cầu của bạn và được sự đồng ý của cấp trên, tháng 5 năm 1965, Trung đoàn xe tăng 202 tổ chức đưa một đoàn chuyên gia do đồng chí Đỗ Văn Xảo làm trưởng đoàn sang giúp bạn xây dựng lực lượng TTG cách mạng.
Sau khi thu hồi tất cả các xe chiến lợi phẩm về một vị trí, đoàn chuyên gia đã tổ chức sửa chữa khôi phục tình trạng kỹ thuật xe máy, vũ khí. Tiếp đó, đoàn đã tổ chức huấn luyện cho các thành viên kíp xe về kỹ chiến thuật.
Kết thúc khóa huấn luyện Bộ chỉ huy của bạn đã ra quyết định thành lập 1 đại đội xe tăng. Đây chính là đơn vị xe tăng đầu tiên của lực lượng TTG Pa-thét Lào.
Song với bản tính tự do, trình độ mọi mặt của cán bộ - chiến sĩ còn yếu kém, trong khi nề nếp công tác kỹ thuật chưa đồng bộ, điều lệnh điều lệ chưa đày đủ... nên việc khai thác và bảo quản TTG của bạn rất yếu.
Các cán bộ - chiến sĩ xe tăng của bạn sẵn sàng đánh xe tăng vào bản, thậm chí đi... thăm người yêu v.v... nên số xe này xuống cấp nhanh chóng.
Vì vậy, theo yêu cầu của bạn, tháng 5 năm 1969, Bộ Tư lệnh TTG đã thành lập đoàn công tác 195 do đồng chí Lê Xuân Kiện chỉ huy gồm 32 người bao gồm thành viên kíp xe, thợ sửa chữa... sang giúp bạn chấn chỉnh lại tình hình.
Sau gần 1 tháng làm việc quên mình, đoàn công tác đã khôi phục được 9 xe PT-76 (6 xe của Pa-thét Lào và 3 xe của quân đội Coong-le). Tiếp đó đoàn còn tổ chức huấn luyện nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ và thành viên kíp xe cho bạn.
So với lần trước, lần này công tác huấn luyện được tiến hành chính quy, bài bản và sát thực tế hơn nên trình độ của bộ đội bạn có tiến bộ vượt bậc và đây chính là nòng cốt xây dựng lực lượng TTG của Quân đội Pa-thét Lào sau này.
Trận đánh đặc biệt
Khi nhiệm vụ sửa chữa xe pháo và huấn luyện cho bạn của đoàn 195 cơ bản hoàn thành cũng là lúc Bộ chỉ huy Pa-thét Lào và Quân tình nguyện Việt Nam quyết định mở chiến dịch Mường Sủi tiến công khu vực Mường Sủi, Xiêng Khoảng nhằm mở rộng vùng giải phóng.
Nắm được ý định đó, đồng chí Lê Xuân Kiện đã đề nghị với Bộ chỉ huy của bạn cho đại đội xe tăng xuất quân tham gia chiến đấu.
Một mặt là để khích lệ tinh thần bộ đội, tạo sự tin tưởng vào vũ khí trang bị; mặt khác cũng là để rút ra những bài học kinh nghiệm trong chỉ huy chiến đấu sau này cho bạn. Đề xuất đó ngay lập tức được chấp thuận.
Mục tiêu đầu tiên được lựa chọn là trận địa pháo của quân đánh thuê Thái Lan tại Nậm Soong. Trận địa này gồm có 10 khẩu pháo cỡ từ 105 đến 155mm, được 1 tiểu đoàn quân phái hữu Lào bảo vệ.
Theo kế hoạch, bộ binh sẽ tiếp cận căn cứ trước, còn phân đội xe tăng sẽ bí mật cơ động đến cách Nậm Soong khoảng 10 km trong đêm 19.6. Sáng sớm 20.6, khi pháo hỏa chuẩn bị bắt đầu bắn xe tăng sẽ cơ động với tốc độ cao lên tham gia tiến công.

Kho vũ khí của Quân đội Lào.
Kho vũ khí của Quân đội Lào.
Vấn đề đặt ra là để đạt được các yêu cầu như trên thì phải đảm bảo trận đánh chắc thắng trong khi bộ đội bạn đều mới và trình độ chưa thật thành thục.
Để giải quyết vấn đề này, đoàn 195 quyết định “gài” vào biên chế đại đội xe tăng này 2 kíp xe do bộ đội Việt Nam sử dụng, còn 4 xe – trong đó có xe đại đội trưởng do các kíp xe của bạn đảm nhiệm.
Cũng may, đã qua hơn 1 tháng công tác cùng nhau, các thành viên của ta cũng đã “lõm bõm” một ít tiếng Lào, đồng chí đại đội trưởng thì lại biết tiếng Việt nên việc liên lạc không đến nỗi quá khó khăn.
Trận đánh đã diễn ra theo đúng kế hoạch. Đúng 5 giờ sáng ngày 20.6.1969, đội hình xe tăng đã đến vị trí triển khai, mặc dù chưa bắt liên lạc được với bộ binh song các xe vẫn phát huy hỏa lực bắn vào căn cứ.
Quân địch không thấy bộ binh nên kéo 2 khẩu pháo 105 mm ra cổng chính bắn trực diện vào xe tăng, 1 xe của ta bị bắn hỏng.
Đồng chí trưởng xe Nguyễn Trọng Kiên (sau là Đại tá, Phó Tư lệnh chính trị BCTTG) đã nhanh chóng chỉ huy xe bắn diệt 2 khẩu pháo địch, sau đó toàn bộ đội hình xung phong. Thấy xe tăng đột nhập căn cứ bọn địch hoảng sợ rút chạy, bỏ lại toàn bộ vũ khí trang bị.
Phát huy thắng lợi, đồng chí Lê Xuân Kiện đề nghị cho phân đội xe tăng tiếp tục tham gia tiến công Bản Khai.
Đây là một cứ điểm kiên cố do 2 GM (binh đoàn) quân phái hữu Lào và Thái Lan đồn trú, có hệ thống công sự vật cản rất kiên cố, hỏa lực cũng rất mạnh.
Tuy nhiên, với tinh thần chiến đấu dũng cảm cùng với sự hiệp đồng chặt chẽ, chỉ sau 35 phút chiến đấu sáng ngày 24.6, liên quân Lào Việt đã làm chủ trận địa.
Quân địch hoảng sợ rút chạy kéo theo cả bọn địch ở Mường Sủi bỏ căn cứ chạy về Xa-la-phu-khun. Chiến dịch Mường Sủi toàn thắng.
Trong chiến thắng đó có sự đóng góp to lớn của đại đội xe tăng liên quân Lào - Việt và trận đánh đặc biệt ở Nậm Soong - Bản Khai đã trở thành một kỷ niệm đẹp trong lòng cán bộ - chiến sĩ TTG hai nước anh em.
Nguồn: http://soha.vn/quan-su/xe-tang-thiet-giap-cua-lao-tac-chien-cung-khong-he-kem-20160323174000379.htm

Thứ Năm, 2 tháng 3, 2017

BÃO THÉP 2- ÁP THẤP ĐƯỜNG SỐ CHÍN- Kỳ 13


          Ngay đêm hôm đó quyền tư lệnh Đào đã có mặt tại sở chỉ huy chiến dịch 139. Đó là một cái hang nằm trên sườn một ngọn núi ở khoảng giữa đường số Bốn và đường số Bảy. Từ đây có thể quan sát bao quát cả một vùng rộng lớn của Cánh Đồng Chum. Khi nghe ông báo cáo về ý định sử dụng tăng thiết giáp trên hai hướng chiến dịch tư lệnh Lê Đức Hữu hoàn toàn đồng ý, ông cũng đồng ý sẽ cử một trợ lý thông thạo địa hình khu vực này dẫn người chỉ huy xe tăng đi trinh sát thực địa.
          Mặc dù đã biết đến Cánh Đồng Chum qua sách vở nhưng quyền tư lệnh Đào vẫn thấy choáng ngợp trước khung cảnh hùng vĩ và có phần huyền bí của cao nguyên này. Những đồi cỏ bằng phẳng nối nhau chạy dài đến hút tầm mắt, xung quanh được bao bọc bởi những rừng thông hàng trăm tuổi lúc nào cũng tỏa ra một mùi thơm khó tả rất dễ chịu. Trên một số ngọn đồi đó có những chiếc chum nằm tập trung thành từng cụm. Những chiếc chum hình trụ được làm bằng đá, đục đẽo thô sơ, cái to cao ngập đầu người, cái nhỏ chỉ bằng cái cối đá lỗ đặt dựng đứng giữa đất trời bao la chẳng biết để làm gì? Có lẽ vì vậy mà người ta gọi đây là Cánh Đồng Chum. Người trợ lý trinh sát của mặt trận giới thiệu:
          - Báo cáo các đồng chí! Trước mặt chúng ta là Cánh Đồng Chum, phía bên trái ta có đường số Bảy chạy từ đông sang tây qua trung tâm Cánh Đồng Chum đến Mường Sủi. Bên tay phải chúng ta là đường số Bốn chạy men theo rìa phía bắc Cánh Đồng Chum qua Noọng Pẹt đến Bản Khai và gặp đường số Bảy ở Mường Sủi. Tại trung tâm Cánh Đồng Chum có khoảng 20 tiểu đoàn địch đồn trú, có sân bay dã chiến và một trận địa pháo.
          Ngay từ khi nhìn thấy nơi này quyền tư lệnh Đào đã nhận xét đây là nơi có địa hình tương đối bằng phẳng, ít bị chia cắt, chất đất cứng chắc, độ dốc thấp,... Ông quay lại hỏi hai trợ lý của mình:
          - Các cậu có thấy đây là nơi có thể sử dụng xe tăng rất tốt không?
          Hai trợ lý ngơ ngác nhìn nhau. Hình như họ chẳng quan tâm đến địa hình mà đang bị những chiếc chum đá huyền bí mê hoặc, lúc ông Đào hỏi họ đang mải tranh luận về nguồn gốc cũng như công dụng của chúng. Quyền tư lệnh Đào hơi gắt:
          - Các cậu hay nhỉ! Đi trinh sát hay đi khảo cổ đấy?
          Trợ lý tác chiến Phùng tỏ vẻ biết lỗi, anh thanh minh:
          - Xin lỗi tư lệnh! Chúng tôi biết vậy nhưng quả thật những chiếc chum đá này nó có một cái gì đó huyền bí mà chúng tôi không dứt ra được.
          Quyền tư lệnh Đào hỏi người trợ lý trinh sát:
          - Đồng chí ở đây lâu có biết gì về nguồn gốc của những chiếc chum này thì giải thích cho họ đi.
          Đến lượt người trợ lý trinh sát bẽn lẽn:
          - Thực ra chúng tôi cũng có hỏi bà con quanh đây nhưng không ai trả lời cho thật chính xác, họ chỉ bảo nghe già làng truyền lại thế này, thế nọ nhưng rất khác nhau nên chẳng biết cái nào đúng, cái nào sai.
          Quyền tư lệnh Đào rành rẽ:
          - Có thể nói đây là dấu tích của một nền văn minh đã phát triển ở một mức độ khá cao. Nền văn minh đó đã tồn tại ở đây từ hàng ngàn năm trước nhưng rất có thể đã bị tuyệt diệt nên không để lại văn tự nói về nguồn gốc những chiếc chum này. Hiện nay có nhiều giả thuyết về nguồn gốc và công dụng của chúng, tuy nhiên giả thuyết có sức nặng nhất là những chiếc chum này dùng để lưu giữ hài cốt của những người đã khuất của bộ tộc chủ nhân vùng đất này. Khi phát hiện ra chúng người ta vẫn còn thấy còn rất nhiều xương người trong đó.
          Trợ lý Phùng ngạc nhiên:
          - Sao tư lệnh lại biết rõ thế ạ?
          Quyền tư lệnh Đào hơi giễu cợt:
          - Tại sao à? Tại sách đấy! Cậu về đọc lại cuốn Vòng quanh thế giới của Nhà xuất bản Phổ thông có trong thư viện ấy- Ông trở lại cái giọng trì chiết mỗi khi không hài lòng- Cứ rỗi ra một cái là cờ tướng, tú- lơ- khơ thì còn biết cái gì nữa.
          Hai chàng trợ lý có vẻ xấu hổ, dù sao thì quyền tư lệnh Đào cũng “đánh trúng” điểm yếu của họ. Phùng vội giở bản đồ ra đánh đấu điểm đứng vào rồi lấy ống nhòm ra quan sát, anh thốt lên đầy mừng rỡ:
          - Báo cáo tư lệnh! Ở đây có thể sử dụng xe tăng để đánh lớn được.
          Quyền tư lệnh Đào cười:
          - Cái đó để tính sau. Còn bây giờ trong tay anh chỉ có hai đại đội thôi đấy.
          Mấy thầy trò còn đi tiếp đến một vài điểm nữa rồi mới trở về sở chỉ huy. Vừa thấy mặt ông tư lệnh chiến dịch đã thông báo:
          - Trên đã cho phép ta bắt đầu đợt Hai chiến dịch. Tôi định đêm nay nổ súng đánh Noọng Pẹt. Anh thấy có được không?
          Quyền tư lệnh Đào gật đầu:
          - Tôi không có ý kiến gì. Bên tôi anh em đã vào vị trí tập kết từ hôm kia, đã đi trinh sát thực địa và hiệp đồng chiến đấu với bộ binh rồi nên không có gì khó khăn cả.
          Tư lệnh chiến dịch phấn khởi:
          - Thế thì tốt rồi. Bây giờ đề nghị các anh thông báo cho đơn vị của mình. Chiều nay ta sẽ di chuyển ra sở chỉ huy phía trước. Nửa đêm sẽ nổ súng.
          Quyền tư lệnh Đào quay về hầm bảo trợ lý Phùng:
          - Đồng chí điện báo cho anh Sỹ đang đi với đại đội Hai: đêm nay ta sẽ tham gia đánh Noọng Pẹt. Nhắc anh em hiệp đồng lại với bộ binh thêm một lần nữa. Thời gian cụ thể do bên bộ binh thông báo.
          Đêm hôm đó tại sở chỉ huy phía trước quyền tư lệnh Đào háo hức như trẻ lại hàng chục tuổi. Thế là cái mong muốn được trực tiếp chỉ huy, được tận mắt chứng kiến bộ đội của mình chiến đấu sắp thành hiện thực, ông không rời chiếc đài vô tuyến điện 2 oát đang để ở chế độ thu canh lấy một phút.
          Đúng 23 giờ bắt đầu hỏa lực chuẩn bị. Những loạt đạn pháo tầm xa bay qua đầu sở chỉ huy cứ rít lên veo véo rồi rót xuống cứ điểm địch, từng cụm chớp lửa lóe lên cùng những tràng tiếng nổ dội về. Từ trong tai nghe của đài 2 oát quyền tư lệnh Đào nghe rõ tiếng trung đoàn phó Sỹ ra lệnh cho đại đội 2 xuất kích lên chiếm tuyến triển khai, tiếng đại đội trưởng nhận đủ rồi ra lệnh cho các trung đội. Mọi thứ có vẻ sẽ được thực hiện đúng như kế hoạch.
          Bọn địch trong cứ điểm cũng như trong hệ thống phòng thủ Cánh Đồng Chum ngay lập tức có phản ứng. Đầu tiên là trận địa pháo của địch ở trung tâm Cánh Đồng Chum lên tiếng. Chúng liên tục bắn dọc theo đường số Bốn để ngăn chặn việc cơ động lực lượng của ta. Chừng mười phút sau đến lượt không quân địch tham chiến. Có đến ba, bốn tốp máy bay đến bắn pháo sáng, ném bom, bắn đại liên xuống xung quanh cứ điểm Noọng Pẹt và cả xung quanh khu vực sở chỉ huy phía trước. Quyền tư lệnh Đào đặt chiếc đài 2 oát lên thành hầm rồi đứng hẳn dậy chăm chú quan sát. Từ trong tai nghe ông đã thấy tiếng của đại đội trưởng đang lệnh cho các trung đội phát hiện mục tiêu tiêu diệt. Ông tin rằng chỉ một lát nữa thôi ông sẽ nhìn thấy những chớp lửa đầu nòng của pháo 76 ly và những chiếc xe tăng đang hùng dũng lao vào cứ điểm địch.
          Nhưng ông đã không kịp nhìn thấy những cái đó. Một chớp lửa nháng lên trong căn hầm sở chỉ huy. Quyền tư lệnh Đào lịm đi và không biết gì nữa.

             ***

          Vị trí tập kết của đại đội 1 tiểu đoàn 195 nằm trong một khu rừng thông còn nguyên vẹn cách đường số Bảy chừng hơn một ki- lô- mét, bên cạnh đó là bệnh viện dã chiến của Quân tình nguyện Việt Nam. Nằm ở đây từ hơn ba ngày chính ủy Võ đã cho bộ đội đi bắt liên lạc với đoàn bộ binh Bông Lau là đơn vị mà họ sẽ đến phối thuộc. Sau khi nhận nhiệm vụ về đơn vị đã tổ chức cho cán bộ đi trinh sát thực địa và tiến hành mọi mặt công tác chuẩn bị chiến đấu. Theo kế hoạch của mặt trận, sau khi giải phóng Noọng Pẹt mở thông đường số Bốn thì cả hai hướng sẽ đồng loạt tiến công vào trung tâm Cánh Đồng Chum.
          Gần sáng nay nhận được tin của trung đoàn phó Sỹ báo về “Noọng Pẹt đã được giải phóng” chính ủy Võ nghĩ bụng: “chỉ một, hai hôm nữa sẽ đến lượt đại đội 1 vào trận” nên sáng nay anh muốn xuống tranh thủ kiểm tra lại một lần nữa công tác chuẩn bị của đơn vị. Vì vậy vừa mới sáng ra anh đã gọi chính trị viên tiểu đoàn Bùi Văn:
          - Cậu đi với tớ xuống đại đội 1 kiểm tra công tác chuẩn bị thêm một lần nữa.
          Không khí buổi sáng trong rừng thông thật dễ chịu mặc dù trời hơi lạnh. Hai anh em vừa đi vừa nói chuyện, chủ đề chính là chiến thắng đêm qua của đại đội Hai. Cả hai đều tin rằng “đầu đã xuôi thì đuôi sẽ lọt” nên hy vọng đại đội 1 sắp tới cũng sẽ chiến thắng giòn giã. Một tốp chiến sĩ đi ngược chiều với bọn họ từ phía bệnh viện dã chiến ra, người nào người nấy trông hết sức mệt mỏi. Đang mải câu chuyện chính ủy Võ vẫn lõm bõm nghe câu được, câu chăng của mấy chiến sỹ: “bom đánh trúng hầm”, “mất máu nhiều lắm, không biết có kịp không?”, “nặng nhất là ông tư lệnh thiết giáp”. Chính ủy Võ vội túm lấy một chiến sĩ giật giọng hỏi:
          - Các đồng chí nói gì? Tư lệnh thiết giáp làm sao?
          Người chiến sĩ giương đôi mắt nhìn chính ủy Võ như nhìn một vật thể lạ, một lát sau anh ta mới mệt mỏi trả lời:
          - Các đồng chí không biết à? Bom đánh trúng hầm sở chỉ huy! Cả tư lệnh chiến dịch, tư lệnh thiết giáp đều bị thương. Bọn tôi vừa mới khiêng các ông ấy vào viện đấy.
          Có vẻ như sét đánh ngang tai cũng không làm cho chính ủy Võ giật mình bằng nghe tin này, anh vội kéo Bùi văn:
          - Vào ngay bệnh viện xem thế nào đã.
          Hai anh em vừa đi vừa chạy gằn vào khu vực bệnh viện dã chiến, họ lao thẳng vào hầm cấp cứu. Ở trong đó các bác sĩ, y tá đang hối hả cấp cứu mấy ca bị thương vừa được chuyển tới. Chính ủy Võ xông thẳng vào cửa hầm, một y tá cản anh lại:
          - Các đồng chí để cho chúng tôi làm việc chứ! Mấy ca này nặng lắm, lại chuyển từ xa về đây nên nếu không nhanh sẽ nguy hiểm đến tính mạng anh em.
          Chính ủy Võ biết anh ta nói có lý nên đành đứng ngoài ngó vào, ruột nóng như lửa đốt. Trong lúc đó Bùi văn đã xán lại gần người y tá trực:
          - Đồng chí cho biết trong số thương binh vừa mới chuyển về có ai là Vũ Huy Đào không?
          Người y tá trực lật mấy tờ giấy viết tay bằng thứ chữ rất nguyệch ngoạc vừa lẩm bẩm đọc rồi anh ta rút ra một tờ:
          - Có đây! Vũ Huy Đào, tư lệnh thiết giáp!
          Giật lấy tờ giấy trong tay người y tá Bùi Văn như không tin vào mắt mình. Anh chạy lại chỗ chính ủy Võ:
          - Đúng là tư lệnh Đào bị thương rồi anh ạ! Giấy chứng thương đây này.
          Chính ủy Võ đón lấy tờ giấy, anh lẩm nhẩm đọc:
          - Bị bom đánh trúng hầm. Vết thương vùng ngực, mặt. Nghi gãy xương sườn, thủng phổi, hỏng mắt trái.
          Thế là đúng rồi! Quyền tư lệnh Đào đã bị thương mà xem ra vết thương khá nặng. Lại còn mấy anh em đi cùng với anh ấy nữa, có ai bị làm sao không? Ruột gan chính ủy Võ rối như tơ vò, anh hết đứng lên ngó vào trong hầm lại ngồi xuống khúc gốc cây gục mặt vào đầu gối.
          Chừng nửa tiếng sau việc cấp cứu đã xong, thương binh đang được chuyển ra. Hai anh em đứng ngay cửa hầm cấp cứu nhưng cũng không thể nhận ra ai vào với ai vì tất cả đều băng bó kín cả mặt mũi, họ đành theo các cáng thương về hầm điều trị. Nhưng cũng phải nhờ đến các đồng chí y tá họ mới biết quyền tư lệnh Đào đang nằm chỗ nào. Nhìn quyền tư lệnh Đào nằm bẹp dí trên chiếc cáng, một vòng băng cuốn chặt quanh đầu và nửa khuôn mặt chỉ để hở cái mũi, cái miệng và một bên gò má chính ủy Võ thấy xót xa: “kiểu này chắc anh ấy sẽ mất đôi mắt”. Mặc dù cũng đã có nhiều lần va chạm, thậm chí to tiếng với nhau song chính ủy Võ vẫn luôn quý mến và tôn trọng người đồng đội, tuy có khắt khe, ác khẩu nhưng bụng dạ chẳng có gì. Lật tấm vỏ chăn trên người ông Đào ra hai anh em lại sững sờ: ông đang ở trần, một vòng băng trắng cuốn quanh lồng ngực đang phập phồng thở từng hơi ngắn và khó nhọc. Đặt một tay lên cánh tay phải còn khá lành lặn của quyền tư lệnh Đào anh gọi nhỏ bằng cái giọng miền nam hơi nằng nặng:
          - Anh Đào! Anh Đào! Anh có nhận ra tôi không?
          Im lặng. Không một dấu hiệu nào cho thấy có sự nhận biết. Bùi Văn đứng cạnh đang sụt sịt:
          - Không biết anh ấy có qua được không?
          Bác sĩ viện trưởng đã đứng đằng sau hai người từ lúc nào không biết, anh chậm rãi:
          - Đồng chí ấy và đồng chí tư lệnh chiến dịch đều bị thương khá nặng, giờ đều đang hôn mê. Các anh đừng gọi anh ấy nữa!
          Chính ủy Võ cầm tay bác sĩ viện trưởng:
          - Liệu anh ấy có qua khỏi được không, bác sĩ?
          Người bác sĩ im lặng một lát rồi mới trả lời:
          - Cũng không biết thế nào mà nói trước được. Chúng tôi đã cố gắng hết sức nhưng khả năng của bệnh viện cũng có hạn. Vì vậy chúng tôi đã điện về bên nhà xin trực thăng để đưa hai đồng chí này về 108 ngay. Không biết có kịp không?
          Đúng lúc ấy cậu công vụ của chính ủy Võ lao tới, cậu ta hớt hơ hớt hải vừa thở vừa nói:
          - Báo cáo... thủ trưởng! Mời... thủ trưởng về... ngay. Mặt trận có điện gửi thủ trưởng ạ.
          Chính ủy Võ sững sờ:
          - Điện thế nào? Đồng chí có biết không?
          Người chiến sĩ đã bớt thở:
          - Em không biết ạ! Chỉ thấy báo về bộ tư lệnh mặt trận gấp.
          Chẳng còn cách nào hơn là về ngay, chính ủy Võ nắm lấy bàn tay người bác sĩ viện trưởng:
          - Thôi thì trăm sự nhờ các đồng chí! Đấy là thủ trưởng của chúng tôi đấy. Tư lệnh binh chủng thiết giáp đấy.
          Người bác sĩ viện trưởng ôn tồn:
          - Các anh cứ yên tâm! Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng.
          Bước thấp bước cao về đến chỗ trú quân chính ủy Võ vội liên lạc với bộ tư lệnh mặt trận. Thì ra trên ấy yêu cầu anh về ngay để thay quyền tư lệnh Đào làm đại diện xe tăng bên cạnh Bộ tư lệnh chiến dịch. Vừa chuẩn bị ba lô anh vừa dặn chính trị viên Bùi Văn:
          - Cậu ở đây thay thế vị trí của tôi bên cạnh chỉ huy của trung đoàn bộ binh. Ngày hôm nay phải xuống kiểm tra lại một lần nữa công tác chuẩn bị chiến đấu của đơn vị. Nhớ phổ biến tin chiến thắng Noọng Pẹt cho anh em phấn khởi. Còn chuyện tư lệnh bị thương thì thôi khoan hãy nói. Bây giờ tôi phải đi đây. Chúc mạnh khỏe và chiến thắng nhé!
          Bùi Văn đưa cả hai tay bắt tay chính ủy Võ:
          - Anh cứ yên tâm! Tôi sẽ cố gắng!
          Đứng dõi theo hai thày trò chính ủy Võ đang rảo bước trên con đường mòn một lúc anh cũng quay lại với những công việc bộn bề đang chờ mình.


MỸ DÙNG CHIẾN THUẬT "TRÂU RỪNG" VÀ CHUYỆN "GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG"

Mỹ dùng chiến thuật "trâu rừng" tại VN - Gậy ông lại đập lưng ông
Chiến thuật "Trâu rừng" của tướng Abram hoàn toàn bị phá sản. Ảnh: UPI

Tại Quảng Trị, sau mấy ngày thuận lợi thì đến ngày 09.4.1972, các mũi tiến công của ta bị “chùn lại” trước chiến thuật "Trâu rừng” của Tướng Abram - Tư lệnh QĐ Mỹ tại VN khi đó.


Chiến thuật “Trâu rừng” là gì?
Với những thuộc tính ưu việt của mình, xe tăng thường được sử dụng trong chiến đấu tiến công nhằm đột phá phá vỡ trận địa phòng ngự của đối phương. Còn trong chiến đấu phòng ngự, xe tăng thường được sử dụng làm “lực lượng phòng ngự cơ động”.
Nghĩa là chúng được bố trí ở một vị trí nằm ở trung tâm tuyến phòng thủ. Khi một mắt xích, một điểm yếu... nào đó của hệ thống phòng thủ bị đối phương chọc thủng xe tăng sẽ được điều động đến để bịt cửa mở, phản kích,... khôi phục lại trận địa.
Tuy nhiên, đó không phải là một định đề bất biến. Tại Quảng Trị, chỉ sau 2 ngày nổ súng ta đã tiêu diệt được nhiều cứ điểm, phá vỡ một mảng tuyến phòng ngự vững chắc của địch, cơ bản giải phóng 2 huyện Gio Linh và Cam Lộ.
Song ngày 09.4, khi quân ta tiếp tục tiến công Thị xã Đông Hà đã bất ngờ vấp phải một tuyến phòng ngự hết sức vững chắc.
Các xe tăng địch được đặt dưới công sự ngay tiền duyên phòng ngự chỉ nhô mỗi tháp pháo lên đã bắn hạ nhiều xe tăng của ta và gây ra cho các lực lượng của ta khá nhiều tổn thất.
Việc bố trí xe tăng cũng rất linh hoạt, có thể bất ngờ thay đổi vị trí khiến cho quân ta bị bất ngờ.
Đưa xe tăng ra tạo thành lớp vỏ cứng của hệ thống phòng thủ chính là nội dung cốt lõi của chiến thuật "Trâu rừng” mà tác giả là tướng  Abram - đương kim Tư lệnh quân đội Mỹ tại VN.
Nghe nói, ông ta đã phát minh ra chiến thuật này khi quan sát đàn trâu rừng đối phó với sư tử. Khi gặp sư tử, đàn trâu rừng lập tức hình thành một vòng tròn. Các con trâu cái, nghé con và những con trâu yếu sức đứng vào giữa vòng tròn.
Còn những con trâu đực khỏe khoắn, thiện chiến thì đứng ở rìa vòng tròn giương những bộ sừng nhọn hoắt lên sẵn sàng nghênh chiến và nhiều khi chính lũ sư tử phải rút lui trước vòng tròn bất khả xâm phạm đó.
Quả thật, chiến thuật đó đã phát huy tác dụng vào trung tuần tháng 4.1972 tại Quảng Trị.

Phút thư giãn của những người lính anh dũng, kiên cường tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972.
Phút thư giãn của những người lính anh dũng, kiên cường tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972.
Gậy ông lại đập lưng ông
Nếu so sánh một cách thuần túy về hỏa lực thì T54 chiếm phần ưu thế so với M48. Pháo của T54 là 100mm, còn pháo của M48 chỉ là 90mm.
Về tầm bắn hiệu quả của pháo T54 cũng lớn hơn. Tuy nhiên, khi M48 nằm tại chỗ trong hầm, còn T54 xồng xộc chạy trên mặt đất thì tương quan về hỏa lực lại đảo ngược 180 độ.
Ngoài ra, khi chỉ nhô mỗi tháp pháo lên thì diện tích mục tiêu rất nhỏ, lại khó bị phát hiện ra... nên khả năng bị tiêu diệt sẽ rất thấp. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến tổn thất khá nặng nề của xe tăng ta ngày 09.4.1972.
Sau khi tiến hành rút kinh nghiệm mổ xẻ nguyên nhân thành công và thất bại của các trận đánh ngày 09.4, nhận diện đày đủ về chiến thuật mới áp dụng của địch BCH Trung đoàn 203 với sự chỉ đạo của tiền phương Bộ Tư lệnh đi đến kết luận:
“Chỉ có bí mật đào công sự cho xe tăng xuống hình thành các trận địa bắn trực tiếp ở khoảng cách gần mới có thể bóc đi lớp vỏ cứng này”.
Tất nhiên, đây không phải là một công việc dễ dàng vì nếu để địch phát hiện ra thì thậm chí có thể sẽ tổn thất nặng nề hơn.
Ngày 27.4.1972 ta quyết định tiến công Đông Hà lần thứ hai.

Xe tăng địch bị tiêu diệt trên chiến trường Quảng Trị 1972. Ảnh: AP.
Xe tăng địch bị tiêu diệt trên chiến trường Quảng Trị 1972. Ảnh: AP.
Trong đêm 26.4.1972, lợi dụng lúc pháo địch bắn Đại đội công binh của trung đoàn 203 đã dùng bộc phá kết hợp công cụ cầm tay đào một số công sự bắn cho xe tăng tại chân các điểm cao 32, 37 (phía tây nam Thị xã Đông Hà).
Đồng thời xe tăng cũng chiếm lĩnh trận địa bắn ngay trong đêm.
Đến giờ nổ súng, các xe tăng ta bất ngờ phát hỏa và nhanh chóng tiêu diệt được một số xe tăng tại tiền duyên phòng ngự của địch trên các điểm cao 32, 37 tạo điều kiện cho xe tăng và bộ binh xung phong diệt địch.
Khi địch từ điểm cao 35 ra phản kích, các xe tăng trong trận địa bắn lại tiếp tục tiêu diệt một số xe tăng nữa buộc địch rút chạy. Thừa thắng xông lên, xe tăng rời công sự bắn lao lên truy kích địch.
Các hướng, mũi khác cũng áp dụng linh hoạt cách đánh này nên hệ thống phòng thủ xung quanh Thị xã Đông Hà bị phá vỡ từng mảng. Chiều 27.4, quân ta đã cơ bản làm chủ Thị xã Đông Hà.
Chỉ riêng trận này, một mình xe 901 của đồng chí Nguyễn Văn Thái - Đại đội trưởng Đại đội 7, Tiểu đoàn 512 đã bắn cháy 5 xe tăng địch.
Thật đúng là “vỏ quýt dày có móng tay nhọn” và “gậy ông lại đập lưng ông”!