Hiển thị các bài đăng có nhãn TẠP VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẠP VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

PHỐ NGÁI- GIẾNG DINH *

"Phố Ngái của tôi còn có một tên khác là phố Hòa Bình. Tôi cũng không hiểu xuất xứ của cái tên này như thế nào, chỉ nhớ bố tôi nói: “Chỉ đến hòa bình lập lại (1955) cái phố Ngái này mới định hình và được coi như một đơn vị hành chính cấp thấp nhất nên mang tên như vậy”. Chỗ cao nhất của phố Ngái là Dinh- đó là đỉnh đồi, trên đó có một trạm quan trắc khí tượng với cái cột đo gió, đo mưa và mấy cái hộp xinh xắn như những chuồng chim bồ câu không biết ở trong là những máy móc gì. Ngay cạnh đó là một cái hố sâu hoắm lộ ra màu đất đỏ tươi. Cho đến những năm học cấp III thì tôi khẳng định phố Ngái chính là tàn tích một trận phun trào của núi lửa và cái hố sâu hoắm, đỏ tươi đỉnh đồi Dinh chính là cái miệng núi lửa. Tất nhiên, ngọn núi lửa này không lớn lắm. Đất ở đây màu đỏ tươi và rất mịn, đó là nơi mà các ông phó cối trong cả huyện vẫn đến lấy về để đóng cối: đất lấy về được đập cho tơi ra, phun lên một ít nước cho ẩm rồi nhồi vào vành cối và dùng vồ nện thật chặt, sau đó đóng dăm vào, để khô là tha hồ xay lúa vài năm; ngay cả cối giã gạo người ta cũng dùng đất này nện chặt. Nói không ngoa thứ đất đỏ nện chặt ấy bền chắc chả kém xi măng là mấy. Ngay dưới chân đồi là giếng Dinh. Giếng có đường kính hơn ba mét, được kè đá hộc từ dưới đáy lên. Xung quanh có thành cao khoảng 30 phân bọn tôi vẫn ngồi quay lưng lại để cọ khi tắm và sân giếng khá rộng rãi. Thấy bảo giếng Dinh này có nguồn từ suối Ngọc trên núi Côn Sơn nên nước vừa trong, vừa ngọt và không bao giờ cạn. Tôi còn nhớ có những năm đại hạn người từ trong làng Ngái, từ dưới Văn Đức cách ba, bốn cây số cũng phải đến đây gánh nước về ăn. Người đến lấy nước đông quá cho nên có lần giếng cạn tới đáy, dưới đó là một lớp cát vàng lẫn với đá hộc; người ta vét đến những gáo nước cuối cùng mà nước vẫn trong và chỉ cần vài phút sau nước lại đổ ra xâm xấp. Ngay như nhà tôi đã có một cái giếng nhưng trong nhà ai cũng kêu nước “ngang” lắm nên vẫn phải gánh nước giếng Dinh về ăn uống. Tôi thì ngại nhất khoản này vì không hiểu sao vai tôi chẳng đặt cái gì lên được, gánh có mỗi bên lưng thùng nước mà nó đau ê ẩm cứ phải luồn tay xuống đỡ, may mà nhà tôi có ông chú và sau này là ông anh đến học nghề may nên tôi thoát tội. Nhưng công bằng mà nói nước giếng Dinh “ngọt” và lành thật, đã bao lần lũ chúng tôi tu ừng ực từng gàu nước lã sau những trận đá bóng hay đánh trận giả nảy lửa mà chẳng thằng nào đau bụng, đau bão bao giờ. Giếng Dinh chắc chắn sẽ để lại những kỷ niệm không bao giờ phai nhạt trong ký ức những kẻ xa quê như tôi:
Giếng Dinh- có tự bao giờ?
Mà bao năm tháng nắng mưa dãi dầu
Mạch nguồn khởi tự nơi đâu?
Mà trong, mà mát như bầu nước tiên
Mà ăm ắp, mà vô biên
Dù đâu khô khát triền miên tháng ngày
Trai quê uống nước giếng này
Sức dài vai rộng đức tài giỏi giang
Gái quê uống nước giếng làng
Tóc dài, da trắng đảm đang mọi bề
***
Dẫu cho muôn dặm đường xa
Làm sao quên được Quê nhà, giếng Dinh!
Dân phố Ngái có một tục hay là đêm ba mươi Tết dù trong nhà còn đầy nước người ta vẫn lên giếng Dinh gánh một gánh nước để lấy may. Chẳng biết tục này có từ bao giờ song ngay từ hồi bé tí tôi đã thấy như vậy. Gánh nước đó sẽ được dành riêng để nấu cơm, nấu thức ăn và nước uống cho cả ngày Mồng Một. Vì vậy đêm ba mươi Tết đường lên giếng tấp nập những ngọn đèn dầu tù mù soi đường cho người đi gánh nước. Có người không cầm đèn mà chỉ cầm một nén hương đang cháy. Nó chẳng có tác dụng soi đường mà chắc chỉ nhằm báo cho người đối diện biết có người đang tới".

*Phố Ngái (Hòa Bình): thuộc KDC Chi Ngại 1, Cộng Hòa, Chí Linh, HD

Gánh nước đêm 30 Tết


Lễ hội đình Phố Ngái (Hòa Bình)



Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

MÙA RƯƠI

Gần sáng, trời se lạnh như đã mùa đông. Rồi một cơn mưa bất chợt ào đến. Mưa không to mà lắc rắc đều đều. Chả lẽ đã “mưa rươi”?
Ở quê tôi cũng như cả vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình có lẽ người lớn nào cũng biết câu “Tháng Chín đôi mươi, tháng Mười mồng 5”. Ấy là câu ca nói về mùa rươi mà các cụ đã tổng kết từ xưa và truyền đời này qua đời khác. Và thật là kỳ diệu, cỗ máy huyền vi của tạo hóa điều hành sao không biết nhưng cứ đúng vào dịp ấy, dù trời đất có thế nào thì rồi thế nào cũng lắc rắc vài hạt mưa như sáng nay. Và con rươi- cái thứ động vật cấp thấp sinh trưởng trong lòng đất cả năm lại ngoi để rồi trở thành những chả rươi, rươi kho hay canh rươi, mắm rươi... trong những bữa ăn vốn nghèo nàn của dân quê.
Còn bây giờ, có lẽ cái cỗ máy điều hành thời gian của Thượng đế có gì đó trục trặc chăng nên thời tiết, khí hậu lắm lúc cứ tréo ngoe so với trước. Vì vậy, hôm nay mới 13 song đã có mưa rươi. Và con rươi nữa, từ món thực phẩm dân dã của những người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn giờ lại thành món đặc sản trong những nhà hàng cao cấp. Nếu có xuất hiện ở chợ thì cũng phải chừng 500K/ ký. Vậy nên nếu có thèm thì sếp của nhà tôi cũng chỉ biết lắc đầu mà bỏ đi sau khi hỏi giá. Thôi thì đành nhấm nháp những mùa rươi xưa vậy!


Quê tôi mặc dù là vùng bán sơn địa nhưng lại được sông nước bao quanh 2 mặt. Đó là nhánh Cầu Giơ ở mặt Nam và nhánh Cầu Gon ở mặt đông. Hai con sông này tuy nhỏ nhưng là nhánh của sông Đông Mai nên cũng chịu ảnh hưởng của thủy triều như “người lớn”. Hai bên bờ sông là vùng đất bãi chẳng trồng cấy gì được mà để cho cói và năn mọc tràn lan. Tuy nhiên, đó lại chính là cái “mỏ” để dân làng khai thác con rươi mỗi độ mùa rươi về.
Thấy một số bác kể ở quê lấy dần sàng đi vớt rươi, tôi thấy hơi lạ. Quê nhà tôi không làm thế bao giờ mà bắt rươi bằng “săm”. Săm rươi là một cái túi hình nón cụt may bằng vải màn (màn xô). Có 2 loại săm: nếu là săm sông thì đường kính miệng của nó khoảng 60- 70 cm hoặc to hơn, dài chừng 2- 3 mét; còn săm bãi thì nỏ hơn, đường kính chỉ độ  30- 40 cm, dài chừng 1,5 mét.
Chuẩn bị đến mùa rươi, người ta đắp vùng đất bãi đó thành những ô ruộng độ vài thước một, đợi cho khi nước lên cao nhất và bắt đầu rút được một lúc, khi đã có sự chênh lệch nhất định mực nước giữa trong bãi và ngoài sông thì họ cuốc một góc ra và đặt cái săm vào đó. Dòng nước lao mạnh từ trong bãi ra sông cuốn theo những đám rươi vào lòng săm. Chờ cho lượng rươi kha khá rồi họ mới hứng cái thúng vào đó và mở nút đáy. Năm nào nhiều thì một mảnh bãi ấy có thể được hàng thúng rươi.



Còn bắt rươi ở sông thì người ta dùng đăng chắn chỉ để chừa một lối và đặt cái săm vào đó. Cứ một quãng sông vài chục mét lại có một cái đăng như vậy.  Cũng như ở bãi, khi nước rút từng đám rươi cũng thun thút chui vào miệng săm. Tuy nhiên, lượng rươi thu được thì lớn hơn nhiều, có khi được lưng một cái thuyền nan một đêm.
Ngày nước rươi vui lắm, cả cánh đồng bãi ven hai con sông đèn đuốc sáng như sao sa, í ới tiếng nói, tiếng cười, tiếng trêu chọc nhau và cả tiếng kêu đày tiếc rẻ khi rươi nhiều quá không kịp tháo làm săm bị vỡ..
Gia đình nhà tôi thì không đi bắt rươi bao giờ bởi là dân “phi nông nghiệp”. Tôi có đi chỉ là đi theo chơi mà thôi. Tuy vậy, mỗi mùa rươi nhà tôi cũng thu hoạch được tương đối. Đơn giản vì ông cụ thân sinh ra tôi là thợ may, nhà lại tiện đường ra đồng... nên bà con trong làng hay ra đó may săm. May xong, cụ không lấy tiền công mà khoát tay một cách hào phóng: “Khỏi! Cứ đem về đi. Nếu đánh được thì cho tôi một bát là xong!”. Thế là gần sáng mai, hết nhà này đến nhà khác đi qua gọi trả công. Thế thôi mà có đêm được hàng chục bát rươi. Và không ai khác, chính cụ sẽ vào bếp để trổ tài chế biến thành chả rươi, thành rươi kho... thơm đến điếc cả mũi lên ấy. Có năm thu hoạch nhiều còn làm được cả hũ mắm rươi nữa cơ. 
Thế rồi, trong cái khí thế: “Mo cơm, quả cà đi lên CNXH; Thay trời đổi đất sắp xếp lại giang sơn” lãnh đạo quê tôi tổ chức cho bà con đắp bờ vùng, bờ thửa. Cứ mỗi năm, những cánh bãi ven sông lại nhỏ đi một ít và cuối cùng là hết hẳn. Và cũng từ đó, mùa rươi ở quê tôi chỉ còn lại trong ký ức của những người đứng tuổi mà thôi!      


Chủ Nhật, 19 tháng 3, 2017

MẤT ĐIỆN



          Nửa nằm nửa ngồi trên chiếc ghế xích đu, mắt lim dim nửa thức nửa ngủ hướng về phía màn hình nhưng hắn chẳng hiểu đài truyền hình đang phát chương trình gì. Muốn nói chuyện chẳng có ai mà nói. Gặp chuyện buồn vui ở cơ quan, ở ngoài đường cũng chẳng có ai mà sẻ chia. Thỉnh thoảng truyền hình cũng có chương trình hấp dẫn nhưng hiếm lắm, cũng có thể với ai đó thì hay nhưng với hắn thì không. Thế là ti vi vẫn mở nhưng đầu óc hắn lan man tận đẩu tận đâu, có khi lại gà gà ngủ, thỉnh thoảng choàng dậy nhìn lên màn hình mà chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra sao. Mà cũng lạ, có hôm chán xem lên giường định đi ngủ sớm thì chẳng hiểu sao không thể nào ngủ được, nằm mãi mỏi cả lưng lại mò xuống mở ti vi xem và lại lơ mơ chẳng hiểu gì. Đã mấy năm rồi buổi tối của hắn là vậy.
Từ ngày làm được cái nhà 3 tầng, 6 phòng đến nay ngày nào cũng như ngày nào. Nhà có bốn người. Buổi sáng, ai cần đi sớm thì dậy trước, kịp thì làm bát mỳ tôm, không thì dọc đường kiếm cái gì đó cho vào bụng. Trưa ở đâu ăn đấy. Tối mẹ nó từ cửa hàng về qua chợ xách vài thứ về xào nấu qua loa cả nhà mới được ngồi với nhau. Nhưng vừa buông bát buông đũa là thằng con trai lại tót lên tầng ba với cái máy vi tính của nó. Chẳng biết nó làm việc hay nó chơi nữa nhưng cứ ở lì trên đó đến chương trình thể thao 23 giờ mới xuống pha cốc sữa hay làm bát mỳ tôm vừa húp vừa xem. Con bé con gái cũng chúi vào phòng riêng, cặp cáp nghe chụp trên đầu, mắt thì dán vào những cuốn sách dày cộp- nó đang học 2 khoa ở Trường Đại học ngoại ngữ mà. Còn bà vợ đã qua cái tuổi hồi xuân thì chắc đang mải cộng trừ nhân chia xem ngày hôm nay cửa hàng của bà lỗ lãi thế nào; sau đó lại loay hoay với kem dưỡng da và các loại dược thảo để chống lại quy luật của thời gian. Nhiều lúc chán quá hắn định đi lang thang nhưng lại ngại dắt xe ra, lại ngại phải thay đồ, rồi ngại nhỡ đi ra đường bị bọn đua xe cho “nốc- ao” nên  lại nửa nằm nửa ngồi, nửa thức nửa ngủ trên cái ghế dài quen thuộc.
Tối nay cũng vậy. Nhưng đang lơ mơ hắn chợt bừng tỉnh. Căn phòng tối om, ti vi cũng tối om và im tịt. À, hoá ra là mất điện! Với cái đèn nạp phòng khi mất điện bật lên, căn phòng chan hoà một thứ ánh sáng dìu dịu. Sầm! Sầm! Sầm! Ấy là thằng con trai đang chạy xuống. Mà cũng lạ, sao chẳng bao giờ nó chịu đi cho từ tốn cả, ngay giữa đêm khuya hay lúc mất đIện tối om om thế này, đã xuống cầu thang là nó cứ lao ầm ầm.
-         Tức thật. Gần xong việc thì mất điện, mai lại phải làm lại từ đầu.
-         Việc gì? Lại có trò chơi mới hả?- Mẹ nó vừa xuống đã có ý kiến ngay.
-         Mẹ buồn cười thật, lúc nào cũng nghĩ xấu về con.
-         Thì mấy lần tao lên phòng mày không bùm bùm thì cũng chát chát, hự hự … đấy thôi.
-         Thì thỉnh thoảng cũng phải để anh ấy giải trí một chút chứ! Nhưng hôm nay là công việc thật mà.- Đứa con gái vừa lò dò xuống đã lên tiếng bênh anh nó.
Thế là cả 4 thành viên của gia đình đã có mặt dưới ánh sáng của cây đèn nạp. Mẹ nó vẫn kịp cầm theo cuốn cẩm nang bất ly thân ghé sát vào đèn xem rồi chì chiết:
-         Chả biết việc gì nhưng tháng này anh phải bù tiền điện thoại đấy nhé. In tơ nét với chả in tơ nít, đội lên 200 nghìn rồi đấy.
-         Mẹ yên trí! Xong phi vụ này con bù cho mẹ hẳn 500.
-         Nhớ lấy nhé, dạo này buôn bán ế ẩm lắm. Tôi không bao cấp cho các anh, các chị được nữa đâu.
Con bé con gái lên tiếng:
-         Sao dạo này mẹ hay kêu ca thế. Chả bù cho dạo xưa, nhà cấp 4, ăn toàn rau mà chẳng thấy phàn nàn gì.
-         Ngày xưa khác! Chỉ cần tiền điện thoại bây giờ cũng đủ ăn cả tháng rồi. Lại còn máy tính ư, in tơ nét ư, ti vi ư, đài đĩa ư, bếp ga ư- bao nhiêu là thứ. Không khéo thu vén thì lấy gì ra mà bù.
-         Hay là nhà mình lại đun than tổ ong cho đỡ tốn tiền ga đi.- Thằng con trai trêu mẹ.
-         Mày định hun cả nhà chết ngạt đấy hả?
-         Về bà ngoại con vẫn thấy mọi người đun rơm rạ đấy thôi, có ai bị sao đâu. Mà ngày xưa nhà mình cũng vậy.
-         ….
Lời qua tiếng lại. Cả vui cả buồn. Cả ngày xưa và hiện tại. Cả nghiêm trang và đùa cợt. Hắn cứ nằm im nghe và trong hắn hiện về hình ảnh những buổi tối xưa ấm cúng biết bao.
Chợt “Oà” một cái. Đèn đóm sáng trưng, ti vi lại phát tiếp chương trình phim truyện. Thằng con trai bật lên như cái lò xo phóng một mạch lên tầng ba. Đứa con gái chụp vội đôi tai nghe vào đầu chạy theo. Bà vợ túm vội cuốn sổ và cây bút bi đứng dậy nhắc:
-         Anh đi ngủ sau nhớ cửa giả cẩn thận đấy!
Còn lại một mình hắn tức tối lẩm bẩm: “Mẹ khỉ! Đang vui lại có điện”.  


Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2017

CHÚC MỪNG NĂM MỚI



Nhân dịp năm mới Đinh Dậu- 2017, kính chúc tất cả bạn bè, người thân của tôi năm mới luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và mọi sự tốt lành!


Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016

GÃ ĐẦU HÓI DƯƠNG VĂN THÀNH

Như thông lệ, năm nay Hội đồng ngũ xe tăng 12.71 của Chí Linh lại tổ chức gặp nhau kỷ niệm 39 năm ngày nhập ngũ (08.12.1971-.08.12.2010). Năm nay, chiếu cố thành viên đăng cai- KS Dương Văn Thành còn đang công tác (TP Kỹ thuật NM cơ khí Mạo Khê, QN) nên tổ chức gặp mặt vào Chủ nhật 05.12. Cuối năm, nhiều công việc, lại tổ chức ở xa… nên chỉ có 15 chiến sĩ có mặt. Gặp nhau, dẫu tóc đã muối tiêu, nhiều người đã lên chức ông nội, ông ngoại song vẫn mày, tao như thuở nào. Biết bao kỷ niệm lại trở về, chuyện nói tưởng chừng không bao giờ hết.

Trước nhà Dương Văn Thành:


Nâng ly mừng ngày gặp mặt:



Một ly cho những đồng đội mãi mãi không về:



Thành quê Thái Học, cách nhà tôi gần chục km. Đến tận năm 68 chúng tôi mới biết nhau vì cùng vào học cấp 3, tôi học lớp A, hắn học lớp C. Tuy nhiên, tôi với hắn khá gắn bó vì cùng là thành viên đội tuyển Toán của nhà trường. Cả 3 năm cấp 3, năm nào tôi với hắn cũng là 2/3 thành viên chính thức đội Toán của trường cắp "lều chõng" đi thi. Mặc dù là huyện miền núi, thuộc diện vùng sâu vùng xa nhưng chúng tôi cũng đã từng ẵm được một giải Ba toàn tỉnh. Phải công nhận Thành thông minh, hắn nhớ làu làu từng chương, từng hồi trong Tam Quốc, Thủy Hử... Còn khi làm bài tập Toán, hắn có nhiều cách giải khá độc đáo. Chỉ có điều chữ viết thì xấu vô cùng, lại cẩu thả nữa. Hắn mà vẽ hình- nhất là hình không gian thì không thể mê được, cứ y như một bát quái trận đồ ấy. Thế cho nên dẫu bài giải của hắn có đúng 100% thì hắn cũng không bao giờ được điểm tuyệt đối.
Hắn đây:



Còn một tội nữa là hắn thuộc dạng siêu quậy. Chả là hắn rất thích học võ. Hồi ấy hắn phải trọ học ở gần trường, cứ chiều chiều hắn cùng mấy tên cùng sở thích lại lên đồi bạch đàn gần đó đấm đá huỳnh huỵch. Mà học võ rồi thì phải có chỗ thử chứ. Thế là thỉnh thoảng lại có trận "choảng" nhau với thanh niên quanh trường xảy ra mà trong đó có hắn tham gia. Cũng may, chưa có trận nào để lại hậu quả nghiêm trọng nên hắn vẫn còn tại vị trong lớp.
Nhưng cũng do cẩu thả mà hắn lại may mắn hơn bọn tôi là biết được kết quả thi ĐH. Chả là hồi đó, toàn bộ việc đăng ký dự thi, thông báo đi thi, thông báo điểm thi và gọi đi học ĐH đều thông qua BTS huyện. Vì vậy, bọn tôi đi thi về nhưng chẳng biết kết quả ra sao. Riêng hắn thì nhận được thông báo của Trường ĐH Bách khoa là "đã đủ điểm, cần bổ sung tài liệu". Thì ra, do cẩu thả, khi làm lý lịch hắn không xin dấu xác nhận của UBHC xã. Thế là nhà trường gửi giấy về yêu cầu làm lại. Tuy nhiên, dẫu có chứng cứ là đã đỗ ĐH thì kết cục vẫn như bọn tôi cả: "gia đình chưa có người đóng góp", đi bộ đội cái đã.
Và thế là ngày 8.12.71, hắn cùng chúng tôi nhập ngũ về TG. Sau thời gian HL tân binh, tôi đi học lái xe, còn hắn về đại đội thông tin. Tháng 3.72, tôi vào chiến trường. Từ đó, chúng tôi bặt tin nhau, chỉ láng máng nghe nói hắn vào B1 (quân khu 5)...

Mấy năm trong chiến trường, điều kiện thư từ liên lạc khó khăn nên ngoài tin Thành vào qk5 ra tôi cũng chẳng biết thêm tin tức gì về hắn nữa.
Thế rồi sau 30.4.75, khi lữ 203 đã rút ra Long Bình, vì cái tội viết chữ hơi bị đẹp nên tôi được lữ đoàn triệu lên giúp việc cho Phòng tham mưu tổng kết chiến dịch, chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết của lữ đoàn. Lên cơ quan lữ đoàn, vừa xa đơn vị lại phải ở với toàn các bác già nên tôi cũng buồn. Tuy nhiên, nhờ có đợt công tác này tôi đã hiểu biết rất sâu sắc về tình hình chung của mặt trận và các trận đánh của lữ đoàn 203 trong mùa Xuân 1975.
Một buổi chiều, sau khi xong việc tôi xách gầu ra chỗ bể nước công cộng tắm. Đang trần như nhộng xối nước ào ào thì thấy có tiếng gọi thất thanh: "Ng. Có phải Ng. đấy không?" từ phía bên kia hàng rào. Vuốt vội nước trên mặt nhìn sang, tôi sững người vì hắn đang đứng đó. Chúng tôi tay bắt mặt mừng hàn huyên. Thì ra, sau giải phóng Đà Nẵng, 1 d của e 574 được tăng cường cho 203 để cùng với dT4 làm phân đội phái đi trước cho qd2. Đó chính là tiểu đoàn của Thành, bây giờ là d5 của 203. Chính d này đã tham gia đánh Phan Rang, Phan Thiết, Hàm tân và có xe 707 hy sinh ngay trước cổng Trường võ bị Thủ Đức.
Tối hôm ấy và mấy tối sau tôi xin phép sang bên d5 ngủ chung với Thành. Hai thằng nói với nhau bao nhiêu chuyện từ khi xa nhau và chốt lại vấn đề là "bây giờ sẽ như thế nào đây?". Với Thành, hắn biết chắc rằng đã đỗ ĐH nên chỉ có một nguyện vọng là nhanh chóng ra ngay để kịp vào năm học mới. Sang ngủ với hắn, gặp gỡ anh em bên ấy đâm ra tôi biết, trí nhớ và cái tài kể chuyện của hắn đã phát huy tác dụng rất tốt trong những đêm khuya lạnh lẽo ở chiến trường. Tôi cũng thấy tự hào lây về bạn của mình.
Cầu được ước thấy, Thành được ra quân ngay đợt đầu sau chiến thắng (cuối tháng 6.75). Hai thằng chia tay nhau gấp gáp. Đối với hắn, bây giờ là làm thế nào đi ra cho nhanh nhất để kịp làm thủ tục nhập học năm học 75-76 (Lúc ấy, việc đi lại giữa hai miền vẫn vực kỳ khó khăn). Nhưng rồi, mọi sự trót lọt và đúng như nguyện vọng, hắn đã được vào ĐH Bách khoa HN học ngay từ năm học ấy.
Một thằng học ĐH tại HN, một thằng học SQ ở Vĩnh Phú nên chúng tôi cũng ít cơ hội gặp nhau. Mãi đến 1983 tôi với hắn mới lại gặp nhau ở quê. Lúc này, hắn đã là một kỹ sư và được phân về công tác tại NM cơ khí Mạo Khê, Quảng Ninh. Hắn phàn nàn, tưởng giời bể gì chứ về nhà máy có việc đâu, toàn chơi thôi. Hồi đó, nhà tôi ở trên một sườn đồi, nước ở đây rất hiếm. Cái giếng nhà tôi sâu đến 15 mét mà mùa khô vẫn cạn kiệt, còn mùa nào kéo nước lên cũng vất vả. Tôi nửa đùa, nửa thật bảo hắn: "Mày đang rỗi, nghiên cứu làm cho tao cái ròng rọc kéo nước". Hắn gật đầu. Bẵng đi mấy tháng sau, khi tôi đã quên cả chuyện ấy thì một hôm, mở cửa vào nhà tôi thấy một cái ròng rọc được vứt qua cửa sổ nằm còng queo ở đó. Thì ra hắn vẫn nhớ lời hứa của mình. Sau này gặp nhau, hắn bảo: "Đấy là sản phẩm đầu tay của một kỹ sư cơ khí". 

Thời điểm những năm 80, nhà máy CK Mạo khê cũng như mọi nhà máy khác trên đất VN đều làm ăn bết bát, công việc chẳng có, thu nhập vì thế cũng chẳng được là bao. Là một kỹ sư mới ra trường, còn nguyên khát vọng được cống hiến, được thể hiện mà không có đất để vẫy vùng, Thành chán nản lắm. Gặp nhau, hắn khăng khăng đòi bỏ nhà máy về đi buôn. Thật tình, cũng chẳng biết góp ý với hắn thế nào, chỉ biết chung chung: "Cứ bình tĩnh, nước nổi thì bèo cũng nổi".
Cuối cùng thì hắn cũng ở lại với mảnh đất Mạo Khê mù mịt bụi ấy. Người ta thường gọi Việt Trì là thành phố bụi nhưng có lẽ VT so với Mạo Khê hồi ấy thì chỉ là "muỗi". Ấy thế mà hắn quyết tâm trụ lại. Cũng không biết vì lý do nhà máy bắt đầu ăn nên làm ra hay là vì tình yêu mãnh liệt của một cô gái đất mỏ đã giữ chân hắn lại :?: 
Thế rồi thời thế đổi thay. Luồng gió đổi mới đã thổi một làn sinh khí vào vùng mỏ. Nhà máy của hắn có thêm nhiều hợp đồng mới và bắt đầu làm ăn có lãi. Không chỉ làm cho nội bộ mỏ mà nhà máy của hắn đã vươn tới những miền đất khác, đã cung cấp hàng loạt các dây chuyền nghiền sàng đá cho các mỏ đá khắp trong nam, ngoài bắc. Tài năng của hắn được dịp bộc lộ, tên tuổi của hắn được các bạn hàng nhắc đến thường xuyên. Hắn được cất nhắc lên phó phòng rồi trưởng phòng KT. Thu nhập dần dần tăng lên, hắn cũng đã xây cho mình một ngôi nhà tuy không lớn nhưng ấm cúng với người vợ hiền thục cùng hai đứa con xinh xắn. Tôi thì trêu: "Mày thì thiết kế đếch gì. Bản vẽ của mày thì có ma nó mới đọc được". Hắn cười: "Giờ tao vẽ bằng máy chứ có vẽ bằng tay đâu". Có thế thât! Nhưng vào phòng làm việc của hắn tôi hơi ngạc nhiên: "sao lại cần hẳn 2 cái máy in thế này?" . Hắn bảo: "Một cái để in giấy A4, một cái để in giấy A3". Tôi bât cười nhớ lại chuyện ông Niu tơn khoét 2 cái lỗ một to, một nhỏ cho con chó và con mèo!

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2016

U TÔI - PHẦN 5

Nhân 10 năm ngày MẸ đi xa- 20.5 AL năm 2005

Những năm 80, cả nước rơi vào khó khăn. Nhà tôi cũng không tránh khỏi cơn lũ đó. Gay go nhất là cái sổ gạo của dân thủ công nghiệp và tiểu thương bị cắt mất. Lực lượng lao động chính thì lại xa nhà: tôi và chú hai đang ở bộ đội, chú ba thì đi học ĐH, chỉ còn chú út ở nhà đang học cấp 3. Bố tôi lúc này mắt đã kém, với lại các cửa hàng may mặc giờ mọc lên như nấm, toàn thợ trẻ chạy theo mod mới rất nhanh... nên không thể cạnh tranh được. Vậy là đôi bồ hàng xén của u tôi lại phải gánh cả gia đình. Có điều so với trước u tôi vất vả hơn nhiều. Chả là thời chiến tranh phá hoại chợ Ngái phải đi sơ tán rồi sau đó chia thành 2 chợ: Sao Đỏ và Đại Tân; phố Ngái cũng mất đi vị trí trung tâm của huyện nên tiêu điều dần. Vì vậy, u tôi không còn được đi chợ nhà nữa mà phải đi chợ xa. Và vì vẫn chưa đi được xe đạp nên người càng vất vả hơn. Hồi đó tôi cũng mới lập gia đình và ra ở riêng tại TT Sao Đỏ cách nhà chừng 3 km. Nhớ cháu, sau buổi chợ sáng u tôi vẫn lội bộ lên chơi với cháu vài ba lần mỗi tuần. Cứ tưởng tượng ra cái dáng tất tả của u những buổi chợ trưa tôi lại liên tưởng tới hình tượng bà vợ cụ Tú Xương: “Quanh năm lặn lội ở mom sông...” . Trước tình hình đó, đã có lúc tôi định xin ra quân về giúp đỡ bố mẹ nhưng cả bố, cả u tôi đều không cho.
Cũng may, tình hình dần dần ổn định trở lại. Chú hai nhà tôi ra quân về nhà. Chú ba cũng ra trường. Chú út thì thi vào SQPB. Mấy anh em lần lượt lập gia đình và kinh tế cũng không đến nỗi nào. Từ lúc đó đại gia đình tôi mới được dễ thở hơn. Đúng lúc đó bố tôi ngã bệnh và ra đi năm 1988. Đó là một cú sốc lớn đối với anh em tôi song tôi tin rằng ông cũng sẽ ngậm cười nơi chín suối bởi anh em tôi đã trưởng thành, đã nên người và cũng đã thực hiện được nhiều nguyện ước của ông. Vượt qua cú sốc đó, chúng tôi đã đứng lên và dường như mạnh mẽ hơn lên. Cả u tôi cũng vậy. Trở thành chỗ dựa của chúng tôi, bà tỏ ra rất quyết đoán và chúng tôi đều chấp hành nghiêm chỉnh mọi quyết định của bà. Càng về sau, kinh tế các gia đình càng ổn định hơn và u tôi đã có những năm tháng khá nhàn nhã cuối đời. Đặc biệt bà vô cùng quý các cháu- lúc này bà đã có 8 cháu- 5 gái và 3 trai. Các cháu cũng quý bà lắm. Nhìn cảnh bà cháu quây quần với nhau tôi biết bà mãn nguyện lắm. Bà có mấy chỉ vàng giắt túi và công khai tuyên bố: “Sau này sẽ cho mấy đứa cháu gái làm của hồi môn”. Tất nhiên là mấy đứa cháu trai chẳng đứa nào ghen tỵ cả.
Tuy nhiên, có một chuyện không mấy vui đã ám ảnh những năm tuổi già của u tôi. Ấy là chuyện chú hai. Đang học dở lớp 8/10 đã đi bộ đội. Ra quân rồi lại không chịu đi học thêm, ở nhà hết làm mộc lại làm hàn, làm lốp song tay nghề thì không cao, lại không chí thú lắm nên gặp nhiều khó khăn. Tự ti, mặc cảm sinh buồn chán rồi nghiện rượu và mắc tiểu đường lúc nào không biết. Lúc phát hiện ra đã khá nặng, phải tiêm in- su- lin hàng ngày song cũng chỉ kéo dài đến cuối năm 2004 thì mất. Có thể nói đây là một đòn nặng giáng xuống đầu u tôi- một bà già đã gần 80 tuổi. Những ngày đó, hầu như khi nào về nhà tôi cũng thấy bà kê cái ghế ở cửa ngồi như hóa đá nhìn về phía nhà chú nó. Cũng chỉ biết động viên bà: “Số chú ấy thế thôi, u ạ!”- chuyện này ông tôi cũng đã có nói đến từ lâu rồi.


Tháng 3 năm 2003
Tôi đi công tác miền Nam, vừa chân ướt chân ráo về đến cơ quan thì nghe anh em cùng phòng thông báo: “Mẹ anh ốm nặng, đang nằm viện rồi!”- hồi ấy chưa có nhiều điện thoại di động như bây giờ. Tôi vội vàng xin phép nghỉ rồi lấy xe máy chạy về nhà ngay. Dọc đường, tôi vượt tất cả các loại xe và chỉ hơn tiếng sau tôi đã về đến Sao Đỏ. Vào viện thì u tôi đã nằm ở khoa cấp cứu với chẩn đoán: “Tai biến mạch máu não”. Vì cả ông ngoại, bà ngoại tôi đều bị căn bệnh này sau khi qua tuổi 70 nên thực tình là chúng tôi cũng rất lo cho mẹ, chỉ không ngờ nó đến sớm quá. Trước hôm tôi đi công tác có ghé qua nhà, thấy u tôi rất khỏe mạnh, hồng hào… không ngờ chỉ có hơn tuần đã phát bệnh.
Với tất cả sự cố gắng của bệnh viện và gia đình u tôi đã qua khỏi song bị liệt nửa người. Chúng tôi đưa u về nhà với một hy vọng nhỏ nhoi về sự bình phục nhờ tiếp tục điều trị bằng đông tây y kết hợp luyện tập. Cũng may, thím út nhà tôi sau khi xuất ngũ tiếp quản gánh hang xén của u tôi nên không bị ràng buộc vào cơ quan nào cả. Chúng tôi thống nhất đề nghị thím nghỉ chợ ở nhà chăm sóc u tôi, còn anh em chúng tôi sẽ bù đắp một phần thu nhập cho thím nó. Vốn hiểu thảo nên chú thím út đồng ý ngay và hơn 2 năm trời ròng rã u tôi không thiếu thốn cái gì và cũng không có gì phàn nàn cả. Bà chỉ bực không thể đi lại được để đi thăm mấy bà bạn chợ. Nghe bà phàn nàn, các em tôi mua ngay một cái xe lăn về đẩy bà đi chơi. Bà vui lắm. Còn chúng tôi cứ cuối tuần là về, các con tôi, con của chú ba cũng hay về thăm bà. Bà nằm đấy nhưng hoàn toàn tỉnh táo, nói chuyện rôm rả như người bình thường- nhất là khi có mấy bà bạn già sang chơi. Nếu có chút buồn thì chỉ là các con của chú hai (đã mất) hơi ít qua lại thăm bà.
Tuy nhiên, có lẽ do số phận đã an bài. Mặc cho mọi loại thuốc men, mọi loại thày thuốc, mọi bài xoa bóp, luyện tập… u tôi cũng không thể hồi phục được. Và ngày 20.5 AL năm 2005, bà đã vĩnh viễn ra đi. Chúng tôi chính thức mồ côi từ ngày đó.