Thứ Sáu, 22 tháng 9, 2017

BÚT KÝ LÍNH TĂNG- HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP- 40


Như muốn cướp lại thời gian đã mất, qua được sông là những con chiến mã lại phóng hết tốc lực trên đường. Con đường quốc lộ Một làm theo công nghệ Mỹ tuy không bị những băng xích xe tăng cày nát nhưng cũng hằn lên hai vệt trắng nhờ, nhưng cuộc hành quân thần tốc lại bị khựng lại cũng vì một cây cầu, cầu Mộ Đức.
Cũng giống như cầu Câu Lâu, cầu Mộ Đức bị đánh sập một nhịp và cũng được bắc lại bằng cầu Mỹ. Đây là loại cầu dã chiến được ghép lại với nhau bởi các khung thép và chỉ có trọng tải 8 tấn nên không đủ tải cho xe tăng qua. Công binh quân đoàn đang tập trung làm ngầm ở phía hạ lưu và xe tăng lại phải nằm chờ. Tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ cho các đại đội dạt vào bên đường lợi dụng bóng cây tránh nắng.
Mộ Đức là một vùng quê có truyền thống cách mạng từ lâu đời, nghe tin hôm nay có một tiểu đoàn xe tăng hành quân qua nghỉ lại Hội mẹ chiến sĩ tổ chức đến úy lạo và khao quân. Tiểu đoàn thông báo trưa nay các đơn vị không phải nấu cơm mà sẽ ăn cơm tập trung từng đại đội.
Gần trưa, ba chiếc xe lam chở cơm và thức ăn đến vị trí tập trung của ba đại đội. Đến với đại đội Bốn là hai bà má đã ngoài sáu mươi, dáng người nhỏ thó nhưng còn khá khoẻ mạnh. Dưới cái nắng trưa gay gắt hai má xăng xái chia cơm, thức ăn vào những bộ xoong chậu quân nhu do các xe mang tới. Thức ăn các má chuẩn bị để khao quân hôm nay gồm cá biển kho, canh chua cá lóc và rất nhiều rau sống. Cái thứ rau sống của người Quảng Ngãi cũng thật lạ. Đó là một hỗn hợp của rất nhiều thứ: rau muống chẻ, rau má, rau diếp cá, ruột cây chuối thái mỏng và đặc biệt nhất là có cả những lát mỏng mít xanh… Sau gần một tháng quanh đi quẩn lại với lương khô, thịt hộp nay trông thấy canh chua và rau sống tên nào tên ấy cứ nuốt nước bọt ừng ực, chỉ đợi chính trị viên cảm ơn các má vài câu và phát lệnh bắt đầu là lao vào ăn như “rồng cuốn”. Tích cực nhất phải kể đến Sáu Bùi, cậu ta phồng mang trợn mắt lèn từng cuộn rau to đùng vào cái miệng rộng hoác, ai hỏi có ngon không cũng chẳng trả lời được, đầu thì gật mà miệng vẫn nhai rau ráu.
Nhìn cánh lính trẻ ăn ào ào như người đói khát lâu ngày, hai má bỗng bật khóc hu hu. Lúc đầu chỉ là những tiếng nấc nhỏ nhưng sau chắc không giữ được các má khóc như mưa như gió. Đang mở hết tốc độ ăn cả lũ bỗng dừng cấp tốc tròn mắt nhìn nhau. Thận và Toàn vội chạy lại bên hai má, cả hai không biết vì lẽ gì mà các má khóc dữ như vậy nên hết sức lúng túng. Toàn ấp úng:
- Má…má… làm sao vậy? Chúng con có gì không phải thì bảo chúng con!
Hai má vẫn khóc nhưng không còn khóc to nữa, một má cất cái giọng Quảng Ngãi vốn đã khó nghe nay lại càng khó nghe trong cơn khóc:
- Mồ tổ tụi bay! Một tiểu đoàn mà chỉ có từng này người thôi sao?
- Vâng! Chúng con chỉ có bấy nhiêu thôi!- Toàn vội trả lời.
Hai má lại oà lên khóc. Xúm lại bên hai má bây giờ không chỉ có Toàn và Thận mà cả hàng chục gương mặt trẻ, đứa nào đứa nấy cứ ngỡ mình mắc lỗi gì. Bỗng hai má ngừng khóc và bật cười, cả lũ lại càng ngạc nhiên. Nhìn những bộ mặt ngây hết cả ra hai má vừa cười vừa giải thích:
- Nghe nói bọn bay có cả một tiểu đoàn, các má tưởng bọn bay đông lắm. Hội các má chỉ có ít tiền nên phải mua cá, mua rau để đãi tụi bay. Biết tụi bay chỉ có bấy nhiêu người thì các má đã thịt một con heo để chúng bay ăn chứ tội gì để tụi bay phải ăn khổ thế này!
- Trời ơi! Thế mà má làm chúng con hết hồn!- Toàn cười hết cỡ- Chúng con ăn thế này là ngon lắm rồi, má cứ xem xem, mâm nào cũng gần hết rồi đấy!
- Ngon thiệt không?- Một má nghiêm giọng hỏi.
- Ngon thiệt mà! Chúng con đi như thế này mấy chục ngày rồi, ngày nào cũng lương khô, thịt hộp nên chỉ thèm rau thôi!- Thận chen vào giải thích.
- Thế thì còn nhiều lắm! Tụi bay cứ ăn đi, các má về lấy thêm.
Chiếc xe lam lại chạy thêm một chuyến nữa về lấy rau, mâm nào lại về mâm ấy tiếp tục cuộc chiến đấu còn đang dang dở. Hai má ngồi nhai trầu bỏm bẻm nhìn đám lính trẻ đang nhồm nhòam nhai, vẻ mặt đầy mãn nguyện.

Cơm nước xong xuôi thì bên công binh báo đã làm xong ngầm, lữ phó Tụ quyết định cho một xe xuống đi thử. Chiếc xe đã qua gần hết ngầm thì chết máy, nước vào động cơ đành nằm lại giữa sông. Để nó nằm đấy thì công binh không làm tiếp được, Tụ cho nối cáp vào để kéo xe lên và lệnh cho “xê Mười Một” khẩn trương khắc phục.
Nhìn những đoàn ô tô vẫn nối đuôi nhau qua cầu lữ phó Tụ càng sốt ruột, ông biết chắc chắn rằng cái ngầm này muốn để cho xe tăng qua được còn tốn nhiều công lắm, có nhanh thì cũng hết đêm nay mới xong. Lững thững đến sát đoạn cầu Mỹ bắc tạm ông thấy mỗi chiếc xe ô tô qua cây cầu tạm chỉ hơi võng xuống một tý, các chốt nối của cầu đều bằng những đoạn thép to gần bằng cổ chân nên khá chắc chắn. Một ý nghĩ táo bạo bỗng nẩy ra trong óc ông: “với kết cấu như thế này có thể cho xe tăng qua được!”. Nghĩ là làm, Tụ cho gọi Thận lên:
- Cái 389 vẫn đi cùng đấy phải không?
- Vâng ạ!- Thận trả lời mà vẫn chưa hiểu tại sao.
- Anh gọi nó lên đây cho tôi.
- Để làm gì lữ phó?- Thận vẫn chưa hiểu.
- Thì để nó đi thử cái xem sao!
Thận đã hiểu ra. Cái xe 389 là cái xe bị mảnh bom chém vào nòng pháo, các chuyên gia về vũ khí đều cho rằng nếu xe này mà bắn pháo thì nòng có thể bị gãy ở chỗ đó. Vừa rồi trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng nó lại bị kẹt lại sau xe 382 ở đường 73 nên chưa biết thực hư thế nào. Khi vào đến Đà Nẵng lữ đoàn vẫn quyết định cho đi, đến đâu hay đến đấy. Còn hôm nay chắc ông Tụ muốn thí tốt đây.
Thận chạy về chỗ đại đội nghỉ chân, anh bảo Tráng:
- Cậu cho xe lên đầu cầu gặp lữ phó Tụ!
Lái xe Nghị đang lơ mơ ngủ bị dựng dậy, mắt nhắm mắt mở đánh xe lên đầu cầu. Lữ phó Tụ đã đứng đó đợi, ông gọi Tráng và Nghị lên:
- Bây giờ các cậu trên xe xuống hết, chỉ một mình lái xe ở lại trên xe- Ông quay sang hỏi Nghị- Cậu có biết bơi không?
- Tôi bơi tốt!- Nghị trả lời.
- Vậy thì thế này nhé. Cậu sẽ lái thử cái xe này qua cầu, cứ bình tĩnh, đi chân dầu thật êm, trước khi vào cầu phải căn hướng cho chính xác, đã vào cầu tạm rồi tuyệt đối không chuyển hướng nữa. Nếu không may rơi xuống sông thì cứ bình tĩnh đợi cho nước tràn đầy vào xe thì bơi ra. Rõ chưa?- Ông nhìn như xoáy vào mắt Nghị.
- Rõ rồi ạ!- Nghị gật đầu ra ý hiểu.
- Nào, bắt đầu nhé!
Tráng gọi Trung, Thành xuống rồi đi bộ vượt sang bên kia cầu. Nghị vào xe nổ máy. Tụ cho người chặn xe hai đầu cầu lại rồi trực tiếp chỉ huy xe. Nghị cũng thấy hơi căng thẳng nhưng cậu tặc lưỡi: “cùng lắm thì rơi xuống sông”. Nghĩ vậy rồi cậu thấy vững dạ hơn và nổ máy đưa xe vào cầu theo tín hiệu của lữ phó.
Quân lính hai tiểu đoàn, rồi đám công binh và người từ những chiếc xe bị chặn hai đầu cầu cùng dán mắt vào từng động tĩnh của xe 389. Nó đã vào phần cầu chưa bị sập…, rồi nó từ từ bò lên nhịp cầu tạm…. Những khung sắt nghiến rào rạo và oằn xuống. Nghị vẫn giữ chân dầu thật êm. Chiếc xe đã bám được băng xích vào mố cầu bên này rồi qua hẳn, nhịp cầu tạm lại vồng lên như cũ. Tiếng vỗ tay lộp độp nổi lên.
Lữ phó Tụ quay lại nhắc hai tiểu đoàn trưởng:
- Về nhắc anh em lái xe: đi qua cầu phải thật nhẹ nhàng, không được chuyển hướng. Giao các anh đứng đây điều hành cho từng xe qua một, rõ chưa?
- Rõ!- Hai tiểu đoàn trưởng mặt tươi hơn hớn trả lời.
- Từ nay gặp cầu Mỹ cứ thế mà qua nhé!- Tụ cười hóm hỉnh, tất cả những người có mặt cùng cười theo.
Chỉ hai mươi phút sau hai tiểu đoàn xe tăng đã qua hết cầu.

Đường tốt, cầu sập đã có giải pháp nên tốc độ hành quân được đẩy lên rất cao. Thực ra hành quân như thế này chỉ cánh lái xe là vất vả, còn các thành phần khác đều tranh thủ nghỉ ngơi được, kể cả trưởng xe.
Con đường thiên lý cứ trải dài trước mắt, hết ngày lại đêm, hết đêm lại ngày. Cứ vài chục cây lại nghỉ một chặng để tiếp nhiên liệu, ăn uống, nghỉ ngơi, kiểm tra kỹ thuật… Mấy tên lái xe có dịp gặp nhau lại đùa: “không nhớ hôm qua, hôm kia mình ngủ vào lúc nào nhỉ?”.
Đại đội Bốn là đơn vị đi cuối trong đội hình hành quân của lữ đoàn, trong đại đội thì xe 380 lại đi cuối cùng thành ra con “tuấn mã sứt môi” trở thành xe đi “chặn hậu”. Ngay từ khi xuất phát từ Đà Nẵng Trang đã bảo Phượng và Luông:
- Các anh cứ yên tâm mà ngủ đi! Đường sá thế này sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra đâu!
Quả có thế thật, với trình độ của đội ngũ lái xe trong đại đội thì điều kiện đường sá thế này chả có gì đáng lo cả, song cái mà đại đội phó Phượng lo nhất là tình trạng kỹ thuật của xe cộ. Sáu chiếc xe của đại đội anh là sáu chiếc T59 đã vào chiến trường từ năm 71, lại phải hành quân vượt Trường Sơn vào Tây Huế trong điều kiện độc lập. Những năm hòa bình sau hiệp định Paris cũng không được củng cố một cách cơ bản nên khó có thể tránh khỏi các sự cố trên chặng đường hành quân hàng nghìn cây số lần này. Dụng ý của anh lần này bố trí xe 380 chạy cuối đội hình là vì anh tin vào tình trạng kỹ thuật của nó, lại tin vào khả năng của Trang có thể giúp anh nhanh chóng khắc phục những hỏng hóc thông thường của các xe trong đại đội. Mấy năm làm trợ lý kỹ thuật tiểu đoàn và hơn hai năm làm đại đội phó kỹ thuật đại đội Bốn này anh đã hiểu tính nết, khả năng của từng xe cũng như của từng lái xe trong đại đội. Suốt từ hôm bắt đầu đi từ A Lưới, nhìn cánh lái xe lúc nào cũng tất bật, vất vưởng, mặt mũi hốc hác, hai mắt thâm quầng anh thương lắm nhưng chẳng biết làm thế nào, chỉ thỉnh thoảng nhảy vào lái đỡ chúng nó một đoạn.
Cái lo của Phượng không phải vô căn cứ, mới vào đến Bình Định xe 381 đã giở chứng đầu tiên, nó bị vỡ ống dầu. May mà Hùng kịp thời phát hiện ra chứ không chỉ chạy thêm vài phút nữa là “đi” luôn cái động cơ, mà đang hành quân thế này bị cháy động cơ chỉ có bỏ lại đấy cho bộ phận “thu dung” của “xê 11”. Xe 380 phải dừng lại để cùng khắc phục.
Đoạn đường này chạy ngay gần biển, hai bên đường toàn dừa. Xe vừa mới dừng Duyệt đã tranh thủ dân vận được mấy quả dừa tuy không to nhưng ngọt lịm. Từ xe 381 về Trang thấy Thọ đang nói chuyện rất thân mật với một trung niên có nước da đen bóng, cậu chui vào buồng lái định tranh thủ ngủ một giấc thì Thọ chui vào theo và thì thầm:
- Nó gạ đổi dầu lấy cá, có đổi không?
Trang hơi ngại vì dù sao nhiên liệu cũng rất quan trọng nhưng nhớ đến bữa cá các má đãi ở Mộ Đức lại thấy thèm, cậu gật:
- Cứ đổi đi! Dầu thì thiếu đếch gì, lấy ngay ở tổ ngoài ấy.
- Mày cứ ngủ đi để tao lấy cho- Thọ lục hòm dụng cụ lấy cờ lê tháo dầu.
- Nhưng nhớ kin kín một tý, đừng để ai trông thấy- Trang dặn với theo.
 Lúc sửa xong xe 381, vừa về xe Phượng đã phát hiện ra ngay:
- Cá mú ở đâu mà tanh thế?
Thọ tỉnh bơ:
- Em với Duyệt vừa dân vận được một ít- Thọ chỉ cái thùng 10 lít gần đầy cá nục- Dân ở đây quý bộ đội lắm.
- Thế à! Trưa nay nhớ chia cho các xe kia ăn với! Còn bây giờ phải tăng tốc để đuổi đội hình Trang nhé! 
Cuộc hành quân từ đấy diễn ra khá suôn sẻ, những sự cố kỹ thuật xảy ra cũng tương đối đơn giản và được khắc phục kịp thời. Đã qua hết đất Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa mà chưa có xe nào bị rớt lại. Cả một miền duyên hải đã trôi qua dưới hai băng xích, biết bao địa danh cảnh đẹp mê hồn như Đại Lãnh, Cam Ranh, Nha Trang, Mũi Né… mà nào có được dừng lại để thưởng thức, chỉ có “sáng kiến” đổi dầu lấy cá được áp dụng luôn nên bữa nào cũng có cá ăn.
Đêm qua Phan Rang trời sáng trăng vằng vặc, những ngọn Tháp Chàm trầm mặc và đầy huyền bí dưới trăng cũng không che lấp được những dấu tích của một trận đánh vô cùng ác liệt đã diễn ra trước đó mấy ngày. Nhiều hố bom trúng giữa mặt đường vẫn chưa kịp lấp. Đó đây rải rác xác lính địch chết chưa được chôn cất đã bắt đầu bốc mùi... Nghe nói tiểu đoàn Bốn, tiểu đoàn Năm đã đánh nhau ở đây dữ dội lắm, có mấy xe bị cháy và Cát “thợ săn” đã hy sinh, cậu ấy mới chuyển sang đại đội Ba hồi đầu năm. Nghe tin Cát chết ai cũng thương, cái thằng vừa chịu khó lại hiền như đất, ai trêu chọc gì cũng chỉ nhe răng cười, cứ vài hôm lại lầm lũi một mình vác súng vào rừng đi săn, thú rừng cũng bắn mà lợn nhà cũng bắn…

Nhìn quang cảnh khốc liệt của chiến trường ai cũng hiểu sẽ chẳng dễ dàng gì trong cuộc chiến đấu sắp tới, kẻ địch đã cùng đường và ai biết được chúng sẽ giở những ngón đòn hiểm độc nào nữa đây để đối phó với họ. 

BÚT KÝ LÍNH TĂNG- HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP- 39



Ngày hôm sau đại đội được lệnh di chuyển về khu vực Bảo tàng cổ vật Chàm. Bốn cái xe được đưa vào một con hẻm nằm bên phải bảo tàng, từ đây có thể nhanh chóng cơ động vào trung tâm thành phố cũng như ra cảng. Nhân viên bảo tàng chắc đã bỏ đi cả nên chẳng có ai trông nom, cửa giả vẫn mở toang.
Ngay khi mới đến mấy anh em đã rủ nhau vào bảo tàng xem. Vốn đã được đọc qua về nền văn hóa Chăm Pa nên Trang lại phải trở thành một hướng dẫn viên bất đắc dĩ. Hùng “bò liếm” và Thọ “pháo” hết sờ nắn bộ ngực đầy đặn của cô vũ nữ lại mân mê cái “lin ga” to đùng rồi cười khúc khích với nhau.
Sau hai ngày được tiếp xúc với bộ đội người dân thành phố đã cởi mở hơn, có mấy nhà đã mời bộ đội vào trong nhà nghỉ ngơi, uống nước. Một ông chủ hàng ăn còn dành cả bếp cho bộ đội nấu cơm, ông còn cho cả rau và gia vị nên bữa cơm của đại đội cũng tươm tất hơn.
Xe 380 của Luông đỗ ngay trước cửa một ngôi nhà mái tôn, vách gỗ dáng chừng của dân lao động. Lúc mấy anh em ở bảo tàng về đã thấy trưởng xe Luông ngồi trong nhà. Ông chủ nhà ra tận xe mời Trang, Thọ, Trực vào nhà uống nước. Trong nhà ngoài ông già còn hai thanh niên và một cô con gái chừng mười bảy tuổi. Theo ông chủ nhà giới thiệu thì một anh thanh niên và cô gái là con ông, anh thanh niên kia là bạn con trai và cả hai đều là thợ điện. Chắc Luông ngồi trong đó đã lâu nên không khí trong nhà khá cởi mở, chợt thanh niên con ông chủ hỏi:
- Các anh đánh vào đây bằng đường nào?
- Chúng tôi đi từ Huế vào theo quốc lộ Một!- Luông trả lời.
- Nghĩa là các anh phải vượt qua đèo Hải Vân?- Người thanh niên tỏ vẻ nghi hoặc.
- Cậu này là lái xe đấy!- Luông chỉ Trang- Cứ hỏi cậu ấy xem!
- Thật thế không anh?- Anh ta quay sang Trang.
- Thật chứ!- Trang gật đầu khẳng định.
- Nhưng cái xe to và nặng thế kia thì làm sao qua nổi? Ở trong này mỗi khi phải vượt qua đèo Hải Vân người ta đều sợ lắm, nhiều người chết ở đấy lắm rồi.
- Thực ra cũng không đến nỗi nào, so với những con đèo trên Trường Sơn thì chưa thấm vào đâu. Ngay cả trên quốc lộ Một thôi đèo Hải Vân chỉ dài hơn chứ không hiểm trở bằng Đèo Ngang- Trang vẫn điềm đạm.
- Các anh cũng qua cả Đèo Ngang?- Anh ta vẫn hỏi dồn.
- Đương nhiên rồi! Nhưng phải công nhận phong cảnh cả hai con đèo đều tuyệt đẹp, một bên là núi cao, một bên là biển rộng, trên là mây bay, dưới là nước biếc. Chẳng thế mà Bà Huyện Thanh Quan làm được bài thơ hay thế!- Nhắc đến hai con đèo làm Trang nhớ đến bài thơ “Qua Đèo Ngang”.
- Anh biết bài thơ này à?- Anh ta hơi ngạc nhiên.
- Tôi thuộc từ hồi còn đi học! Một bài thơ rất hay về nội dung, còn “niêm luật” của nó thì thật là mẫu mực- Rất tự nhiên Trang đọc bài thơ mà cậu vốn thích- “Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Lom khom dưới núi, tiều vài chú; Lác đác bên sông, chợ mấy nhà. Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia. Dừng chân đứng lại, trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta”.
- Hay quá!- Người thanh niên còn lại nãy giờ im lặng bỗng thốt lên- Chắc trước khi đi lính anh đã học Văn khoa?.
- Không!- Trang xấu hổ- Tôi mới chỉ học hết lớp mười, bằng lớp mười hai trong này ấy.
- Sao anh lại biết bài thơ này?
- Có gì đâu? Đây chỉ là một bài thơ trong chương trình môn văn ở trường phổ thông thôi mà! Ngoài ra thỉnh thoảng tôi cũng tìm đọc những gì mình thích.
Ông chủ nhà cứ há hốc mồm ra nghe chuyện, có lẽ ông cảm thấy có rất nhiều cái khác nhau giữa những người lính giải phóng với các sắc lính mà ông từng biết.
Ngay chiều hôm ấy ông chủ nhà thông báo: “con trai ông và bạn của nó không phải là thợ điện mà là sĩ quan không quân, cả hai đều đã tu nghiệp ở Mỹ về, mấy hôm nay vẫn tá túc ở nhà đợi xem tình thế thế nào và trưa nay đã quyết định ra ủy ban quân quản để trình diện”.

Hai ngày sau, chắc là tình hình ở nội thành đã khá yên ổn nên đại đội Bốn được lệnh sang bán đảo Sơn Trà rồi ngay sau đó lại cơ động về căn cứ của sư đoàn Ba tại Khánh Sơn để củng cố mọi mặt chuẩn bị cho những trận chiến đấu tiếp theo.
Vừa về đến Khánh sơn đã thấy Phượng, Tráng, Bùi, Khoa, và mấy anh em ở hai xe 382, 389 ra đón. Cả hai pháo hai Khoái và Lực trông đồ dưới chân Động Truồi cũng đã được đón về đây. Mới xa nhau có một tuần mà đã có biết bao biến cố xảy ra làm cho người ta tưởng như đã xa nhau hàng tháng, hàng năm.
Căn cứ sư đoàn Ba ngụy được xây dựng khá cơ bản trên một vùng đồi đất đỏ, những dãy nhà một tầng mái tôn xây ngay hàng thẳng lối làm nhà ở cho binh lính, còn những nhà xưởng ở đây thì thật tuyệt, cao ráo, rộng rãi, hàng chục chiếc xe tăng nằm lọt thỏm trong một ngôi nhà.
Việc đầu tiên lữ đoàn tiến hành khi chuyển đến Khánh Sơn là tổ chức lại cho phù hợp với điều kiện chiến đấu sau này. Theo đó đại đội Bốn phải chia tay người anh em cùng tiểu đoàn là đại đội Ba để về tiểu đoàn Một, tiểu đoàn xe chiến đấu xung kích. Cuộc chia tay khá bịn rịn bởi dù sao cũng đã gắn bó với nhau suốt những năm tháng gian khổ nhất ở chiến trường Trị Thiên Huế. Tiểu đoàn Bốn  được bổ sung một đại đội xe bọc thép và sẽ cùng tiểu đoàn Năm, một đơn vị lữ đoàn 203 mới tiếp nhận của quân khu Năm hình thành hai tiểu đoàn tăng thiết giáp bơi nước của lữ đoàn.
Về Khánh Sơn ngày hôm trước thì hôm sau đại đội họp tổng kết chiến dịch Huế - Đà Nẵng, chủ nhiệm chính trị lữ đoàn Lê Minh thay mặt Đảng ủy chỉ huy lữ đoàn xuống dự. Sau phần báo cáo chung của ban chỉ huy đại đội là rút kinh nghiệm, có mấy ý kiến đều phàn nàn về công tác bảo đảm cơ động. Giá như hai cây cầu An Nông và Thừa Lưu được khắc phục kịp thời thì đại đội đã hoàn thành nhiệm vụ được tốt hơn, sớm hơn. Đến phần bình xét khen thưởng, tất cả số lái xe và gần hết số cán bộ chiến sĩ tham gia đánh Huế và Đà Nẵng đều được đề nghị thưởng huân chương các loại.
Chủ nhiệm chính trị Lê Minh phát biểu sau cùng, ông nhiệt liệt biểu dương tinh thần chủ động khắc phục khó khăn của đại đội Bốn nên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong cả chiến dịch, đặc biệt đã góp phần to lớn trong chiến dịch giải phóng Huế, bắt tù binh thu chiến lợi phẩm ở Thuận An. Sau đó ông truyền đạt nội dung bức điện của Đại tướng Tổng Tư lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa…”. Khí thế trong đại đội lên cao hừng hực. Cuối cùng ông kết luận:
- Thực hiện khẩu hiệu “thần tốc” lữ đoàn ta sẽ cùng quân đoàn hành quân theo trục đường Một vào giải phóng những tỉnh còn lại của miền Nam, quãng đường dài hàng nghìn cây số. Vì vậy riêng đối với đại đội Bốn là đơn vị xe cũ nhất thì đồng chí lái xe nào đưa được xe đến tham gia trận đánh cuối cùng sẽ được tặng một huân chương.
Cả đại đội vỗ tay rào rào.     

Biết chặng đường hành quân sắp tới dài cả nghìn cây số nên cánh lái xe đại đội Bốn rất lo lắng về tình trạng kỹ thuật của xe. So với những cái T54B mới cứng của tiểu đoàn Hai và hai đại đội trong cùng tiểu đoàn này thì 6 cái T59 đã vào chiến trường từ năm 71 của bọn hắn chỉ đáng là đống sắt vụn. Cái nào cái ấy cóc cáy, mốc thếch bụi đường và khói đạn, cả đại đội không còn một lá chắn bùn nào nguyên vẹn… Vì vậy cả đơn vị tập trung làm thật đầy đủ các nội dung bảo dưỡng cấp Hai theo quy định, ngoài ra còn làm thêm một số nội dung nữa mà họ thấy cần thiết, đặc biệt là đối với hệ thống điều khiển và vận hành. Ở xe 380 còn mệt hơn vì thiếu người, công việc đang ngập đầu ngập cổ thì đại đội lại điều mất pháo hai Trực đi. Cậu ta được điều về xe 381 và “lên chức” pháo thủ, trong khi đó người thay thế chưa thấy tăm hơi đâu. Đã thế Luông lại suốt ngày họp hành, Thọ thì vừa tranh thủ bảo dưỡng vũ khí vừa cơm nước nên chỉ có một mình Trang lúi húi ngoài xe suốt hai ngày nay. Mà sao thời tiết kiểu gì không biết, giữa mùa Xuân lại oi bức đến thế.
Đang chúi mũi vào buồng truyền động Trang bỗng giật mình vì có tiếng ai đó gõ gõ vào thùng dầu ngoài, chẳng buồn ngẩng mặt lên cậu gắt:
- Rỗi rãi thì đi chỗ khác chơi! Đang bận tối mắt tối mũi lại còn đến quấy!
Im lặng một lát thì một giọng nói rất nhẹ nhàng cất lên:
- Này! Cho tôi hỏi thăm một tý!
Trang ngẩng bộ mặt nhem nhuốc của mình lên. Trước mắt cậu là một thân hình loẻo khoẻo khoác trên vai cái ba lô lép kẹp, trên vai là một cây đàn ghi ta cũ đã bong tróc nhiều chỗ, Trang hất hàm:
- Hỏi gì hỏi nhanh đi!
- Đây là xe 380 do anh Luông làm trưởng xe phải không?
- Phải! Có việc gì thế?- Trang hỏi trong khi tay vẫn nhoay nhoáy làm việc.
- Tôi là Duyệt, được điều về xe này làm pháo hai.
Trang hơi ngỡ ngàng, pháo hai gì mà người ngợm lại thế kia. Trong mỗi xe tăng thì đó là một trong hai vị trí mà công việc nặng nhọc nhất: cái buồng chiến đấu thì hẹp vanh vanh, mỗi viên đạn nặng hơn ba mươi cân người như thế kia thì làm ăn sao được. Hơi thất vọng về thành viên mới của xe Trang buông thõng:
- Thế à!
- Anh Luông có nhà không?- Vẫn cái giọng mềm mỏng ấy.
- Ông ấy đi họp chi bộ, còn tôi là Trang lái xe. Thôi được rồi! Ông cất ba lô lên xe rồi lau mấy khẩu súng đi.
Duyệt đặt cái ba lô và cây đàn lên xe, cậu ta nhún mình nhảy lên xe rất nhẹ nhàng, chỉ một loáng sau cậu ta đã lau và lắp đâu vào đấy khẩu 12 ly 7 và hai khẩu đại liên. Trang lại một lần nữa ngỡ ngàng, “tay này cũng được đấy chứ”, cậu nghĩ bụng. Đến bữa trưa thì cả xe đã thân thiện với nhau. Người mới đến là Nguyễn Kim Duyệt, dân Hà Nội gốc, nguyên sinh viên Đại học Nông nghiệp 1.

Ngày 7 tháng tư, tiểu đoàn Bốn và tiểu đoàn Năm lên đường, đó là hai tiểu đoàn tăng thiết giáp hạng nhẹ, được sử dụng làm phân đội phái đi trước của quân đoàn, có nhiệm vụ đánh địch, mở đường cho đại quân cánh quân duyên hải.
Ngày 14 tháng Tư các đơn vị còn lại của lữ đoàn mới xuất phát. Cuộc xuất quân khí thế lắm, xe nào xe nấy đều có hai chữ “thần tốc” trên tháp pháo. Ra đến đường Một, gần năm chục chiếc xe tăng hạng trung nối đuôi nhau chạy trông thật hùng dũng. Tất cả mọi phương tiện đang lưu thông trên đường đều dạt hẳn về một bên nhường đường, bà con hai bên đường vẫy tay chào mừng thật là thân thiện.
Cái khí thế hừng hực ấy kéo dài chưa được bao lâu thì bị giội ngay một gáo nước lạnh: hai nhịp cầu Câu Lâu bị phá mới được lắp tạm bằng “cầu Mỹ” không đủ tải cho xe tăng qua.
Để đảm bảo cho xe tăng vượt sông Thu Bồn công binh quân đoàn bố trí một bến phà dã chiến ngay bên cạnh cầu. Con sông Thu Bồn mùa nước cạn có một cù lao nằm ở giữa, phà phải chạy vòng qua nên mất gần hai tiếng đồng hồ chiếc xe tăng đầu tiên mới đến bờ bên kia. Trên bờ cả hai tiểu đoàn xe tăng nằm vạ vật dưới cái nắng mùa khô xứ Quảng. Lữ đoàn phó Dương Xuân Tụ phụ trách hành quân đi đi lại lại, miệng gầm gừ như con hổ bị nhốt trong cũi:
- Không biết các ông ấy làm ăn thế nào? Đã hiệp đồng như đinh đóng cột rồi mà có mỗi cái phà con con, hai tiếng một xe thì bao giờ mới qua hết được sông.
Bên trinh sát của quân đoàn cho biết về phía thượng lưu gần chục cây số cũng có một cây cầu bê tông. Như bắt được vàng Tụ lệnh cho cả đoàn xe tăng ngay lập tức hành quân đến đó. Nhưng chạy đến nơi rồi lại đâm thất vọng, cây cầu tuy là bê tông nhưng quá mảnh dẻ, chiều rộng mặt cầu không bằng chiều rộng thân xe nhưng vì hai bên không có lan can nên vẫn có thể qua được. Với vẻ không tin tưởng lắm lữ phó Tụ lệnh cho một xe của đại đội Một đi thử.
Hàng trăm cặp mắt trên bờ dõi theo từng vòng lăn xích của chiếc xe tăng trên cầu. Nó đã qua được một phần ba. Ai cũng khấp khởi chắc là qua được thì “ịch” một cái: một nhịp cầu sập một đầu xuống sông, cái xe tăng chìm gần hết trong làn nước xanh ngăn ngắt chỉ thò mỗi nòng pháo lên như một cánh tay kêu cứu. Chẳng thể làm gì hơn cả đoàn xe tăng lại lầm lũi quay lại cầu Câu Lâu chờ phà.

Gần hết ngày hôm sau hai tiểu đoàn mới qua sông hết, đại đội Bốn là những người qua sông cuối cùng. 

Thứ Tư, 20 tháng 9, 2017

BÚT KÝ LÍNH TĂNG- HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP- 38



Nhưng mọi cái không như dự tính, cả đại đội vón lại thành một cục trước cây cầu Thừa Lưu đã bị phá sập. Đứng sát mố cầu nhìn dòng sông trong xanh đang lững lờ trôi Thận lẩm bẩm:
- Số đen rồi! Lại như hôm đánh Huế thôi!
Tuy vậy, cũng có cái khác so với hôm cầu Phú Bài bị phá sập là có một đại đội công binh của quân đoàn đang tìm cách làm ngầm cho các phương tiện cơ giới vượt sông. Nhìn các chiến sĩ công binh bê từng sọt đất hắt xuống lòng sông ai cũng thấy ngán ngẩm nhưng rồi cũng chẳng biết làm cách nào ngoài việc đợi. Thận lệnh cho xe lùi lại một ít đến chỗ có mấy ngôi nhà bỏ không để nấu cơm ăn.
Đang khí thế ầm ầm nay như bị dội một gáo nước lạnh anh nào anh ấy buồn so. Đã thế cánh “xê Ba” lại chạy qua vẫy tay rối rít chúc: “đi sau vào mà nhặt ống bơ nhé” lại càng tức đẫy. Chúng nó là xe lội nước mà.
Trời đã quá trưa, cái oi nồng của trời đất như làm tăng thêm sự bức bối trong lòng người, cứ thỉnh thoảng Thận lại cho Chỉnh lên xem công binh đã làm xong ngầm chưa nhưng lần nào anh cũng nhận được cái lắc đầu.
Nóng ruột không kém “đại trưởng”, mấy lái xe lên đầu cầu ngồi chờ cánh công binh làm ngầm. Bỗng Trang reo lên:
- Trên kia có một cây cầu đường sắt còn nguyên kìa! Lên xem biết đâu lại đi qua được!
Cả Hỏa, Tập, Hùng cùng nhìn theo hướng tay Trang. Đúng là ở phía thượng nguồn cách chỗ họ đứng chừng gần trăm mét có một cây cầu dành riêng cho xe lửa vẫn còn nguyên, nhịp cầu sắt cong cong trông còn vững chãi lắm. Cả bọn kéo nhau chạy đến. Cây cầu vẫn còn nguyên vẹn nhưng vì là cầu đường sắt nên  không có mặt cầu, bên trên hai dầm sắt to đùng chỉ là những thanh tà vẹt gỗ đặt cách nhau chừng sáu bảy mươi phân và trên cùng là hai thanh đường ray thép. Trang lầm bầm tính toán:
- Về tải trọng thì không lo rồi vì cả đoàn tàu còn qua được cơ mà. Không có mặt cầu cũng không sao vì khoảng cách giữa các thanh tà vẹt thế xích xe tăng sẽ trườn qua được. Vấn đề còn lại là những thanh tà vẹt đó có chịu được sức nặng của xe không thôi?
  Vốn con nhà cơ khí nên Hỏa tính cũng nhanh:
- Với chiều dài xích chạm đất gần bốn mét thì nếu xe nằm gọn trên đó sẽ nằm trên năm thanh tà vẹt, mỗi đầu tà vẹt sẽ phải chịu lực khoảng gần bốn tấn, tớ nghĩ nó sẽ chịu được.
Tập tham gia:
- Mà giả sử nó không chịu nổi thì xe cũng không thể rơi xuống sông được, nó chỉ sập bụng xuống đường ray thôi, kéo lên vẫn được mà.
- Thế thì đi qua xem sao nhớ?- Trang nhìn ba đồng nghiệp và hỏi.
Cả ba cái đầu cùng gật, Tập bảo:
- Nhưng phải báo cáo “đại trưởng” đã!
Hùng nhanh chân chạy về gọi Thận, Toàn lên xem. Sau khi nghe các lái xe báo cáo Thận quyết định:
- Được! Cứ đi thử xem sao? Qua được thì tốt, không qua được thì kéo lại chờ công binh. Các cậu về đưa xe lên đây!
Cả bốn cái xe đã được đánh lên gần đầu cầu, Thận chỉ Trang:
- Cậu cho 380 qua trước đi!
Trang nhảy vào cửa lái xe, Hỏa dặn với theo:
- Chú ý căn hướng chính xác từ trước, đã vào cầu rồi thì không chuyển hướng nữa, chân dầu cũng phải nhẹ thôi!
Trang gật đầu, những việc này đối với cậu quá quen thuộc sau những ngày lái xe đi phục vụ sửa chữa. Trang khởi động xe rồi cho xe bò lên mặt đường sắt, sau khi hai thanh ray đã nằm gọn trong bụng xe cậu căn hướng thật chuẩn rồi từ từ tăng ga. Phía trước Hỏa vẫn vẫy tay rất nhẹ nhàng, mắt cậu ta nhìn như dán vào hai băng xích. Trang giữ chân ga thật ổn định. Hai băng xích xe đã chớm đến thanh tà vẹt thứ nhất, thứ hai,… rồi nằm gọn trên năm thanh đúng như dự tính: không có chuyện gì xảy ra. Trang giữ nguyên chân ga cho xe đi rất từ từ và chỉ biết là đã qua hết cầu khi tiếng vỗ tay, tiếng hò hét của cả đại đội và cánh công binh vang lên.
Sau chừng hai mươi phút toàn đại đội đã qua hết bờ Nam, Thận lệnh cho đại đội lên đường với tốc độ cao nhất.

Khoảng hai giờ chiều toàn đại đội đã đến chân đèo Hải Vân, Thận cho nghỉ ngắn kiểm tra kỹ thuật trước khi vượt đèo.
Đã từng vượt qua nhiều đèo dốc trên đường hành quân từ Bắc vào, từ A Lưới xuống nên con đèo nổi tiếng này không quá khó khăn đối với cánh lái xe đại đội Bốn. Thực ra nó cũng khá hiểm trở, nhiều khúc cua đến chóng mặt nhưng mặt đường lại trải nhựa và tương đối rộng nên các xe vẫn chạy được số Hai, chỉ thỉnh thoảng mới phải về số Một ở những đoạn có độ dốc lớn. Vấn đề đặt ra đối với họ là độ dài của đèo rất dài, những hai mươi hai cây số, riêng chiều lên là hơn chục cây nên phải làm sao giữ cho nhiệt độ động cơ không bị quá cao.
Trang nâng ghế lái xe lên cao, cậu vừa chăm chú nhìn đường vừa liếc mắt sang hai bên nhìn phong cảnh. Tính Trang vẫn vậy, từ bé cậu vẫn khao khát được khám phá những vùng đất mới nên hôm nay được đặt chân tới một địa danh nổi tiếng thế này cậu hào hứng lắm. Quả thật, lời đồn không ngoa, có những chỗ phong cảnh đẹp đến sững sờ, nhất là ở những khúc cua trên sống núi chìa ra phía biển: trên đầu là mây trắng bay là là, dưới tít xa kia là vịnh Tiên Sa xanh thẳm. Trang những muốn dừng lại để ngắm nhìn nhưng trưởng xe Luông luôn mồm nhắc tăng tốc độ không để xe trước bỏ quá xa, cậu thầm nhủ trong lòng: “rồi sẽ phải trở lại nơi đây ít nhất một lần trong đời”.
Gần đến đỉnh đèo, trong ống kính đã thấy mấy cái lô cốt đứng sừng sững như những tên lính gác cần mẫn, Thận lệnh cho tất cả đóng cửa sẵn sàng chiến đấu. Tuy nhiên càng đến gần nhìn càng rõ thì thấy tất cả lô cốt đều trống không, có lẽ người anh em “xê Ba” đã xua chúng đi rồi.
Đã đến đỉnh đèo. Mấy cái chướng ngại vật đơn giản trên đường bị xích xe vượt qua dễ dàng. Một cái lô cốt vẫn đang cháy, hai ba khẩu pháo 105 ly đang nằm chỏng chơ, mấy cái GMC vô chủ cũng đang chúi đầu vào vách núi. Rõ ràng đại đội Ba đã đi trước và chắc là không còn địch nên Thận hạ lệnh “lập tức đổ đèo”.
Chiều xuống của Hải Vân hình như không hiểm trở bằng chiều lên và cũng ngắn hơn hay là do đi được tốc độ cao không biết mà chỉ chưa đầy một tiếng toàn đại đội đã xuống đến chân đèo, Thận tiếp tục cho đại đội tăng tốc độ.

Trời đã ngả về chiều, ánh hoàng hôn làm con đường dẫn vào thành phố thêm thê lương, ảm đạm: những bãi tha ma chạy dài theo hai bên đường, những nấm mộ thấp lè tè lơ thơ vài ngọn cỏ úa vàng phơ phất. Bức tượng Phật khổng lồ trầm mặc như bất lực trước những khổ đau của chúng sinh. Những đống quần áo, súng ống vứt bừa bãi như minh chứng cho một cuộc rút lui vội vã và bế tắc. Biết có một đại đội đã đi trước nên Thận khá yên tâm, anh cho lái xe thò đầu để lái.
Đã đến ngoại ô thành phố. Thận đang phân vân không biết đi theo hướng nào thì một sĩ quan tác chiến của quân đoàn đến chặn xe lại thông báo tình hình chung và nhiệm vụ của đại đội Bốn: “Thành phố Đà Nẵng về cơ bản đã được giải phóng, tuy nhiên ta chưa kiểm soát được hoàn toàn. Đại đội Bốn có nhiệm vụ đánh chiếm và chốt giữ thương cảng Bạch Đằng, kiểm soát mọi sự qua lại trên sông Hàn”. Một chiến sĩ bộ đội địa phương có nhiệm vụ dẫn đường cho đại đội anh.
Thận lệnh cho toàn đại đội tiếp tục tiến. Đường phố đã lên đèn nhưng vắng ngơ vắng ngắt nên tốc độ vẫn giữ được khá cao, lác đác đó đây đã thấy những lá cờ giải phóng và những bóng áo quân phục mang băng đỏ.
Tầm tám giờ tối toàn đại đội đã đến thương cảng Bạch Đằng, một cầu tầu bằng bê tông dài vài chục mét nằm chìa hẳn ra sông. Thận bố trí đại đội thành đội hình chiến đấu. Trong ánh điện lờ mờ bốn cái xe tăng như bốn con voi nằm phủ phục, bốn khẩu pháo gườm gườm chĩa xuống mặt sông, chắc chắn không một phương tiện nào cơ động trên sông lọt qua vị trí này được. Thận quy định: “trừ lái xe được ngủ, còn lại tất cả thay nhau canh gác”.
Gió sông Hàn mát rượi, đêm qua đã gần như không ngủ, lại thêm một ngày vất vả nên chẳng cần ăn uống gì mấy lái xe chỉ kịp hạ ghế lái xe xuống là chìm vào giấc ngủ.

Sáng được một lúc thì Thận nhận được lệnh cho đại đội đi diễu hành phục vụ quay phim, chụp ảnh. Thấy Thận không thoải mái lắm người sĩ quan đến truyền đạt mệnh lệnh ghé tai anh nói nhỏ:
- Đi phục vụ quay phim chụp ảnh chỉ là phụ, còn thực chất là đi để biểu dương lực lượng đấy! Ông không biết chứ thành phố này phức tạp lắm, suốt từ khi Pháp đánh chiếm đến nay nó chỉ sống với cách mạng được mấy chục ngày hồi cách mạng tháng Tám, ngay cả năm Mậu Thân ta có đánh được vào đây đâu! Sau khi quay phim về các ông vẫn phải nằm lại nội thành này mấy ngày nữa đấy!
Thôi thì nhiệm vụ nào cũng là nhiệm vụ, Thận bảo anh em xếp thành đội hình rồi đi diễu qua mấy phố trung tâm. Quả thật, người dân ở đây nhìn các anh với con mắt có phần e ngại, họ dứng nép thật sâu vào bên đường và không niềm nở vẫy chào các anh như ở Huế.
Quay phim và diễu hành xong đã gần trưa, đại đội được phép lui vào một con ngõ nhỏ đối diện với thương cảng Bạch Đằng. Chưa biết nếp tẻ thế nào nên không dám vào nhà dân nhờ, Thận cho anh em nấu cơm ngay trên hè phố.
Chắc rằng sự kiện có mấy chiếc xe tăng giải phóng nằm giữa phố đã kích thích những người hiếu kỳ kéo đến. Lúc đầu họ còn đứng xa xa nhìn ngó, bàn tán. Sau dần dần họ kéo đến từng xe, người thì lấy gang tay đo nòng pháo, người thì xúm lại xem giải phóng ăn cái gì. Cuối cùng thì mỗi anh lính đều bị một đám đông xúm quanh với hàng trăm, hàng nghìn câu hỏi.
Có lẽ đây là một tình huống nằm ngoài dự kiến, những bài học chính trị về công tác dân vận ở vùng mới giải phóng chưa đủ để quân ta trả lời nhiều câu hỏi “hóc búa” đại loại như: “tại sao năm 54 chúng tôi đã trả cả miền Bắc cho các ông rồi mà các ông còn đánh vào đây?”, “cộng sản nghĩa là như thế nào, đem cộng hết cả tài sản của mọi người lại với nhau à?”, “giải phóng rồi thì có cho chúng tôi ở lại đây không?”…; một số cậu thấy “bí” quá đành chọn giải pháp lỉnh vào xe ngồi tịt luôn trong đó.
Ở chỗ nấu cơm bà con cũng đang xúm đông xúm đỏ. Thấy nồi hai mươi cơm gạo trắng tinh bốc hơi nghi ngút và mấy hộp thịt đã được bổ ra một người chửi đổng:
- Tổ cha chúng nó! Thế ni mà biểu giải phóng ăn toàn lá sắn, bảy người đu cọng đu đủ không gãy!
Xung quanh chính trị viên Toàn và đại đội trưởng Thận là đông người nhất, chắc bà con cũng đoán ra đó là cán bộ nên cứ xúm lại hỏi han. Hai người tối tăm mặt mũi vì những câu hỏi được tuôn ra tới tấp. Tiếng Đà Nẵng đâu có dễ nghe, cứ phải hỏi đi hỏi lại hai ba lần mới hiểu lõm bõm, nhưng những câu trả lời của các anh đã làm bà con tương đối yên lòng.
Trang ôm khẩu AK đứng ngay cạnh xe, nhiệm vụ của cậu là không cho ai được đến gần và trèo lên xe nhưng cũng phải luôn mồm trả lời những câu hỏi của một đám đông quanh nó. Một bà má đã già lắm rồi len sát vào Trang, bàn tay răn reo của má túm lấy cổ áo cậu vạch ra và nghển cổ lên nhìn chăm chú. Trang đứng bất động không hiểu bà đang nhìn gì, cậu nghĩ bụng: “chắc mặt mình bị nhọ”. Nhưng không phải, bà má đang hỏi gì đó, Trang phải hỏi lại hai ba lần mới hiểu:
- Các con không có “mùng” à?
Đã đọc nhiều sách và biết nhiều về phương ngữ nên Trang hiểu bà má muốn hỏi về cái màn, cậu vội trả lời:
- Chúng con có ạ!
- Có sao để “mọi” đốt thế ni?- Bà má đưa tay chỉ vào cổ cậu.
Trang vội cúi xuống nhìn: cả một vạt từ cổ xuống đến ngực cậu dày đặc nốt muỗi cắn như một cái bánh đa vừng. Trang chợt nhớ lại đêm qua: vừa hạ ghế xuống là ngủ luôn, muỗi sông Hàn khủng khiếp quá. Chẳng biết làm sao cậu đành trả lời bà má:
- Tại hôm qua con ngủ quên mắc “mùng”.
- Lần sau phải nhớ nhé! “Mọi” ở đây nhiều lắm!
- Vâng!- Mắt Trang rưng rưng, cậu chợt nhớ mẹ ở nhà.
Một thanh niên tầm mười sáu, mười bảy lại cố len vào:
- Có phải bộ đội giải phóng bị xích vào ghế ngồi trong xe không?
- Bị xích thì chúng tôi đứng đây sao được- Trang điềm đạm trả lời.
- Nhưng lúc đánh nhau cơ?- Anh ta vẫn cố gặng.
Trang nhìn trước nhìn sau. Quy định là không cho ai lên xe nhưng trường hợp này thì hơi đặc biệt, cậu định tìm Thận để báo cáo nhưng thấy anh cũng đang bị vây bởi một đám đông đến mấy chục người nên quyết định:
- Tôi sẽ cho anh lên xem có xích ở ghế không nhé! Nhưng chỉ một người thôi!
Trang trèo lên xe đưa tay kéo người thanh niên vừa hỏi lên, cậu mở cửa trưởng xe và cửa pháo hai rồi đưa anh ta lại chỗ cửa lái xe:
- Có thấy xích đâu không?- Trang hỏi lớn.
- Không!- Anh ta trả lời và chửi đổng- Mẹ cha bọn chúng, toàn nói bậy.
Đám đông chỉ vãn đi lúc chiều xuống, trừ mấy pháo hai phải lo việc nấu cơm và mấy tay ít lời chuồn vào xe ngồi, còn lại cổ đều khản đặc. 

Đại đội 4 tiến vào giải phóng Đà Nẵng

Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017

BÚT KÝ LÍNH TĂNG- HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP- 37


Buổi sáng ở biển đến thật sớm, mới hơn 5 giờ đã thấy những tia nắng bình minh nhuộm đỏ chân trời đằng đông. Hình như chỉ đợi có thế những dòng người từ bên kia bờ lại lũ lượt kéo về. Khác hẳn tối hôm qua. Hôm nay đoàn người di tản trở về thành phố có đủ nam, phụ, lão, ấu, ai cũng tay xách nách mang. Xe 380 án ngữ ngay đầu bến phà, ngồi trong xe nhìn ra Trang nói nhỏ với cả xe:
- Hình như dân thành Huế kéo nhau ra đây hết thì phải? Thảo nào hôm qua mình đến Huế thấy vắng như chùa Bà Đanh ấy.
- Thì dân người ta cũng sợ chứ, hai bên đánh nhau thế nào chả có “tên rơi, đạn lạc”, chẳng biết  thế nào cứ tránh đi là hơn- Luông có vẻ hiểu biết.
- Có lẽ người ta sợ như hồi Mậu Thân ấy, hồi ấy mình đánh vào rồi thì bọn Mỹ ném bom. Lúc mình rút ra nó quay lại giết hết những người ở lại với giải phóng nên dân chết nhiều lắm- Trang đồng tình, cậu cũng đã tìm hiểu được nhiều tư liệu về Huế trong những năm nằm ở A Lưới.
Thọ đột ngột chuyển đề tài:
- Cứ bảo con gái Huế đẹp nhưng từ hôm qua đến nay tớ chả gặp “em” nào đẹp cả.
- Tớ cũng thấy thế, cứ nghe đồn đại mãi mà có phải thế đâu?- Trực cũng góp chuyện.
- Bỏ nhà, bỏ cửa chạy ra đây nằm vạ nằm vật, nhịn đói nhịn khát mấy ngày thì tiên cũng thành cú vọ, còn đòi ai đẹp được- Trang gắt.
Quả thật, những dòng người đang diễu qua trước mắt họ trông mới đáng thương làm sao, ai cũng tiều tụy, mệt mỏi như không còn sức sống. Anh em họ cũng muốn ra tay giúp đỡ họ nhưng biết là không xuể vì dân thì quá đông mà họ chỉ có một dúm người, lại còn lúc nào cũng phải cảnh giác sẵn sàng chiến đấu nữa chứ. Trang lại nhớ đến người thiếu phụ đêm qua, mặc dù còn trẻ nhưng cậu hiểu những gì mà những con người này đã trải qua trong mấy ngày vừa rồi.
Thấy dòng người chủ yếu là dân thường Thận ra lệnh cho số lái xe đi thống kê sơ bộ các loại phương tiện mà địch đã bỏ lại đây, chủ yếu là tăng thiết giáp. Sau một hồi đếm đi đếm lại rồi leo vào tận nơi kiểm tra cả bọn kéo về xe 386, Hỏa thay mặt bốn anh em báo cáo:
- Báo cáo “đại trưởng”! Tổng số có 54 xe tăng M48, 12 xe bọc thép M113, 4 xe cao xạ tự hành và mấy xe công trình. Còn lại ô tô, xe kéo pháo thì nhiều lắm, đếm không xuể.
Trang còn chui vào xe nhặt về một lô quân kỳ của địch. Những lá quân kỳ của lính thiết giáp Việt Nam cộng hòa thêu khá cầu kỳ với những hình thù rất dữ tợn, cậu vứt thành đống dưới băng xích xe:
- Cả một thiết đoàn nguyên vẹn đấy, nó mà “chơi” thì đại đội mình “toi” hết chứ còn gì!
- Đúng thế!- Thận xác nhận- Lúc mới đến đây tớ cũng nghĩ y như cậu, thế cho nên gom được ít nào phải cho về phía sau ngay, để chúng tập trung ở đây thấy có ba chục “mống” chúng mà hăng lên đánh lại thì “toi” cả nút thật.
Vốn đã được giới thiệu về xe địch nhưng chưa bao giờ được thực hành, nay nhìn cả đống phương tiện ngổn ngang máu kỹ thuật nổi lên, Tập rụt rè đề nghị:
- Xin phép “đại trưởng” cho chúng em lái thử xe của chúng một lúc!
- Được thôi! Nhưng cẩn thận đấy nhé!- Thận dặn với theo.
Đầu tiên cả bọn kéo nhau lên một chiếc M48, Hùng mò mẫm trên bảng đồng hồ, cậu bật hết công tắc này đến công tắc khác, đến cái thứ tư thì máy bắt đầu nổ. Chỉ tay vào cái công tắc Hùng dặn:
- Công tắc khởi động đây nhé! Còn số má thì ai cũng biết rồi phải không?
Thế là mỗi người về một xe, chạy đi chạy lại một lúc rồi lại túm tụm bàn tán với nhau:
- Lái thế mới là lái chứ! Vặn khẽ vô lăng nó đã chuyển hướng ầm ầm, chả bù cho mình kéo cần lái vẹo cả sườn- Hùng phát biểu đầu tiên.
- Cần số cũng nhẹ như không ấy nhỉ, không phải nghiến răng lại mà kéo như mình- Tập cũng phụ họa.
- Nó còn có cả số quay tại chỗ đấy, lúc nãy các cậu có nhìn thấy một xích tiến, một xích lùi không?- Đến lượt Hỏa tham gia.
Trang kết luận:
- Công nhận xe nó hơn xe mình nhiều thứ nhưng rõ ràng là thua về pháo rồi, nặng những 48 tấn mà pháo chỉ có 90 ly, thua hẳn xe mình 10 ly.
- Hay bây giờ ta đi lái ô tô đi!- Hùng đưa ra sáng kiến.
- Hay đấy!- Cả bọn đồng tình.
Chui vào bãi xe, lại mò mẫm một lúc rồi tên nào cũng nổ được máy, số má thì họ đều biết nguyên lý rồi nên chỉ một lúc sau mấy cái GMC đã chạy được, sau vòng đầu còn hơi chuyệch chọac đến những vòng sau đã thấy chững chạc lắm. Nhìn cánh lái xe đang lái ô tô Thận cũng thấy ngứa ngáy chân tay, anh bảo Trang:
- Cậu cho tớ lái thử một tý!
Trang nhường tay lái cho đại trưởng và hướng dẫn sơ sơ, cánh trưởng xe pháo thủ cũng xúm đến xem và một lúc sau thì bãi hàng cảng Thuận An thành bãi tập lái xe của đại đội Bốn.

Dòng người kéo về thành phố vẫn lải rải lúc nhặt lúc thưa nhưng chỉ còn toàn dân thường nên đỡ căng thẳng hơn một chút, ngôi nhà trực của trạm viễn thông Thuận An được trưng dụng làm sở chỉ huy kiêm nhà bếp, nhà ăn của đại đội. Lúc mới mở cửa vào Trang đã hoa cả mắt lên vì những thiết bị không biết gọi tên là gì nhưng chắc là rất hiện đại, trong các hộc tủ thì đầy những bóng bán dẫn đựng trong những hộp nhựa xinh xinh, Thọ nhanh tay bốc luôn một nắm, cậu ta bảo “đem về tha hồ mà lắp đài”.
Đẩy cửa vào một gian phòng có kê giường ngủ hai anh em lại hoa mắt lên lần nữa bởi xung quanh tường toàn là ảnh con gái khỏa thân. Những cô gái Mỹ tóc vàng, mắt xanh trên người không một mảnh vải đang uốn éo như mời gọi. Đang say sưa ngắm thì chính trị viên Toàn bước vào, anh nghiêm sắc mặt:
- Bóc ra! Đem đốt hết đi!
Kể cũng tiếc nhưng hai tên phải gỡ hết tranh ảnh xuống đem ra sau nhà đốt. Mắt trước mắt sau thấy không ai để ý Thọ cuộn một bức khá to giấu vào người.
Cánh pháo hai đã bắc bếp ngoài đầu hồi nấu cơm, hôm nay thì không phải ăn cơm sấy nữa nhưng vẫn chỉ có thịt hộp, xung quanh trống trơn chẳng bói đâu ra ngọn rau nào.
Trong phòng chính của ngôi nhà có một cái vô tuyến truyền hình. Trang biết thế vì năm 71 cậu đã vào Triển lãm Vân Hồ xem, ở đó người ta giới thiệu về Đài truyền hình Việt Nam đã phát sóng thử nghiệm. Từ dạo đó Trang vẫn băn khoăn không hiểu bên trong cái máy là những gì mà nó lại hiện được hình, được dịp này nó bảo Thọ:
- Cậu muốn xem bên trong nó là cái gì không?
- Xem thì xem!- Thọ hưởng ứng không nhiệt tình lắm.
Thấy chỉ có hai anh em Trang lấy mũi dao găm cậy cái nắp sau ra, một mớ linh kiện điện tử nhằng nhịt như trong các đài thu thanh, chỉ khác là có một cái bầu thủy tinh mặt trước phẳng, phía sau có cái ống bằng chuôi dao thò ra. Trang bê cái bầu thủy tinh lên xem đi xem lại, nhìn các điện cực trong ống thủy tinh và mấy cuộn dây điện ốp bên ngoài nó đã lờ mờ hiểu ra nguyên lý làm việc của đèn hình. Tuy nhiên ham muốn tìm hiểu đến cùng mọi sự việc đã chiến thắng, Trang giở sống dao găm đập một nhát vào cái ống thủy tinh, một tiếng “xì” và một ít bụi trắng bay ra. Trang cầm cái ống trên tay săm soi một lúc, cái đầu gật gù như đã giải được một bài toán khó. Chợt nghe tiếng lao xao bên ngoài cậu quăng vèo cái ống thủy tinh xuống ruộng và đá luôn cả cái máy xuống gầm sàn.

Nửa đêm 28 tháng 3 một chiếc xe Jeep phóng hết tốc lực từ phía Huế xuống, người sĩ quan tác chiến của quân đoàn truyền đạt mệnh lệnh ngắn gọn: “Đại đội 4 ngay lập tức xuất phát đi đánh Đà Nẵng”.
Mọi thứ đã sẵn sàng nên chỉ ít phút sau toàn đại đội đã nổ máy lên đường. Trăng cuối tháng khá sáng và đường vắng nên tốc độ hành quân tương đối cao, ra đến đường Một cánh lái xe càng chạy khoẻ, có lúc chạy cả số Năm, lúc sáng rõ mặt người đã đến đèo Phước Tường.
Đã vượt qua đỉnh đèo và bắt đầu đổ dốc, Trang thấy phía trước mình vẫn là xe 386 cũng đang chạy với tốc độ khá cao. Xuống hết dốc là một đoạn đường thẳng tắp, Trang ngẩng đầu nhìn không thấy xe 386 đâu nữa. Bụng nghĩ: “tay Hỏa này hôm nay chạy khiếp thế, vừa mới thấy ngay phía trước mà giờ đã không nhìn thấy đâu nữa”, Trang tống vào số Năm và tăng ga chạy hết tốc độ.
Nhưng cái gì thế kia? Rõ ràng là “đại trưởng” Thận và Chỉnh đang đứng ở rìa đường, quần áo ướt lướt thướt và đang vẫy tay rối rít. Trang vội hãm xe cấp tốc. Cậu như không tin vào mắt mình: chiếc xe 386 chúi đầu xuống một cái cống, đuôi xe chỉ còn bám một tý trên mặt đường, lái xe Hỏa cũng ướt lướt thướt đang ngồi run lẩy bẩy dưới vệ đường.
Cả đại đội đã dồn lại, tất cả xuống xe chạy đến, Toàn thốt lên:
- May mà dưới đó có nước, nếu không thì sứt đầu mẻ trán cả rồi.
Quả thật, với tốc độ đó mà lao xuống chỗ này thì những người ở trên tháp pháo đều lao đầu xuống như vận động viên bơi lội xuất phát, nếu không có nước thì chắc là gẫy cổ. 
 Cánh lái xe xúm vào hỏi han Hỏa, hắn bảo:
- Tớ cũng chẳng biết tại sao nó lại tự chuyển hướng như thế! Rõ ràng tớ nhích cần lái bên phải mà nó lại lao ngay sang trái mới tức chứ!
- Có lẽ đây là tình huống “phản chuyển hướng” khi lực cản lăn nhỏ đấy!- Trang giải thích.
Thực ra hiện tượng ‘phản chuyển hướng” thì các lái xe đều biết rồi. Nhưng thông thường nó chỉ xảy ra khi xuống dốc, còn ở đây lại là đường bằng nên không phải ai cũng nghĩ đến nó mà đề phòng.
Trên mặt đường Trị quát:
- Còn ngồi đấy làm gì? Lên đây tìm cách kéo xe đi chứ!
Cả hội lái xe kéo lên, với địa thế này tổ chức cứu kéo không khó, chỉ có điều phải dùng lực kéo rất lớn vì xe 386 bị chúc hẳn gần như dựng đứng thế kia, cuối cùng phương án được đưa ra là dùng hai xe để kéo.
Hai xe 380 và 381 được đánh lại gần, sau khi móc cáp vào đuôi xe 386 Trang và Hùng từ từ khởi xe cho căng cáp rồi dừng lại chờ hiệu lệnh thống nhất. Khi cánh tay Trị phất lên cả Trang và Hùng cùng tăng ga, hai cái động cơ gầm lên nhưng rồi gằn lại như bị bịt mũi, khói xả tuôn ra mù mịt, hai sợi cáp căng ra như dây đàn, bốn băng xích cào xuống mặt đường toé lửa. Trị vẫn vẫy mạnh tay, Trang và Hùng lại cùng tăng ga, chiếc 386 rùng mình một cái rồi từ từ được lôi lên mặt đường, toàn bộ phần đầu xe dính bùn bê bết.

Sau khi mấy anh em thay quần áo đại đội lại tiếp tục hành quân, Trang nhẩm tính: “cứ tốc độ này chỉ trưa nay sẽ có mặt tại Đà Nẵng”.