Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

SỰ KIỆN 30.4.1975- LỊCH SỬ KHÔNG CHẤP NHẬN SỰ MÙ MỜ, NGOẮT NGOÉO- Kỳ 2

Mặc dù cuộc Hội thảo đã đưa ra kết luận song cái kết luận này lại gây ra phản ứng dữ dội từ một số nhân chứng và sự không đồng tình, không ‘tâm phục, khẩu phục” trong dư luận chung.

Cuộc bút chiến, tranh luận vẫn tiếp tục
Ngay sau khi báo chí đưa tin nội dung kết luận của Viện LSQS, từ TP.HCM, đại tá Bùi Văn Tùng đã lập tức phản ứng. Ông cho rằng “kết luận” đó không khách quan, nghiêng về phía Trung tướng tư lệnh Quân khu I Phạm Xuân Thệ và yêu cầu phải tiếp tục làm sáng tỏ sự thật lịch sử.
Tương tự, những người lính trên chiếc xe tăng nổi tiếng 390 cũng đã lên tiếng có ý kiến về công tác tổ chức hội thảo và phản đối “thông báo” của Viện Lịch sử quân sự.
Về công tác tổ chức Hội thảo, các thành viên kíp xe 390 cho rằng ban tổ chức đã có phần thiên vị và để sót một số nhân chứng quan trọng. Cụ thể là: đối với đại diện Lữ đoàn XT 203 ban tổ chức chỉ mời 3 người: ông Bùi Văn Tùng- nguyên chính ủy lữ đoàn; ông Trần Minh Công- nguyên Lữ đoàn phó tham mưu trưởng và ông Bùi Quang Thận- nguyên đại đội trưởng Đại đội XT 4. Trong 3 đại biểu này thì vào trưa 30.4.1975,  ông Công bận chỉ huy việc bố trí lực lượng ở ngoài sân và xung quanh dinh đề phòng địch phản kích; ông Thận thì lên nóc dinh cắm cờ. Hai đại biểu này không hề biết những gì xảy ra trong dinh- đặc biệt là trong phòng khánh tiết nên không thể có ý kiến gì được. Chỉ có duy nhất ông Bùi Văn Tùng là ở trong dinh lúc ấy song đã bị tai biến mạch máu não một lần, trí nhớ giảm sút, nói năng khó khăn. Vậy có thể coi như Lữ đoàn XT203- lực lượng chủ công đánh chiếm và có mặt sớm nhất tại dinh ĐL đã không có đại biểu ở đó.
Trong khi đó, BTC lại bỏ qua những nhân chứng đã có mặt đầu tiên trong dinh ĐL, đã tiến hành những công việc đầu tiên để bắt giữ TT Dương Văn Minh cùng nội các- đó chính là các thành viên kíp xe 390.
Những chiến sĩ trên kíp xe 390 nói gì?
Trung úy Vũ Đăng Toàn


Hãy nghe trung úy Vũ Đăng Toàn- nguyên chính trị viên Đại đội xe tăng 4, đồng thời là chỉ huy xe 390- chiếc xe đã húc đổ cổng chính dinh ĐL kể lại: “
Tôi xin khẳng định, sau khi xe tăng 390 húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập và tiến sát bậc thềm lên xuống của Dinh rồi dừng lại, tôi thấy anh Bùi Quang Thận (đại đội trưởng Đại đội xe tăng 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203, trưởng xe 843) cầm cờ chạy tới nơi. Biết đồng đội vào Dinh làm nhiệm vụ cắm cờ, tôi vội xách khẩu AK (bên hông vẫn đeo súng ngắn) chạy theo để yểm hộ.

Hai chúng tôi vừa vào tầng 1 của Dinh đã gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh - Phụ tá Tổng thống Dương Văn Minh. Tôi nhớ rõ lúc ấy ông Hạnh mặc quân phục, đội mũ hơi lệch, đeo quân hàm chuẩn tướng.

Ông Hạnh chào rất lễ phép và nói Tổng thống Dương Văn Minh đang đợi quân Cách mạng. Lên đến lầu 2, anh Bùi Quang Thận định lên cắm cờ nhưng không biết đường. Ông Nguyễn Hữu Hạnh cử người đi theo và có một người mặc chiếc áo trắng cộc tay nhận dẫn anh Thận đi lên nóc Dinh bằng thang máy. Còn lại một mình với khẩu AK vẫn lăm lăm trên tay, tôi thấy Nội các của Dương Văn Minh nhốn nháo với thái độ khá sợ hãi.

Lúc này Ngô Sĩ Nguyên (nguyên pháo thủ số 1 xe 390) cũng lên tới nơi. Hai anh em chúng tôi đã dồn Nội các của Dương Văn Minh vào một chỗ, sau đó Nguyên ra đứng gác ở cửa.

Thấy ổn, ông Nguyễn Hữu Hạnh mới vào phòng trong mời ông Minh ra chào. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh chi tiết: Lúc chúng tôi lên, ông Minh không phải đã ngồi sẵn cùng nội các trong phòng khánh tiết, mà ngồi ở phòng bên cạnh.

Khi ông Minh vừa ra thì đại úy Phạm Xuân Thệ (lúc đó là Trung đoàn phó Trung đoàn 66- PV) cùng 2 trợ lý cũng bước vào phòng.

Anh Thệ có nói với tôi anh là trung đoàn phó trung đoàn 66, sau đó bắt tay Dương Văn Minh bằng tay phải, tôi cũng bắt tay Dương Văn Minh bằng tay trái.

Khi mọi người chưa kịp làm gì tiếp thì trung tá Bùi Văn Tùng (sau là đại tá, hiện đã nghỉ hưu- PV) Chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 tới. Ông Minh thấy anh Tùng người to cao thì lễ phép chào: “Thưa ông, chúng tôi đợi các ông vào lâu rồi để bàn giao chính quyền”.

Anh Tùng nói: “Các ông là người bại trận. Các ông không còn gì để bàn giao mà chỉ có đầu hàng vô điều kiện”.
Còn pháo thủ Ngô Sĩ Nguyên thì kể: “Khi anh Bùi Văn Tùng bước vào, anh Thệ chào và nói: “Báo cáo thủ trưởng, tôi là đại úy Phạm Xuân Thệ, trung đoàn phó Trung đoàn 66, sư 304”.

Anh Bùi Văn Tùng hỏi: “Ngoài anh ra còn ai nữa không”. Anh Thệ nói: “Không”. Anh Tùng nói: “Vậy thì mời anh vào đây cùng làm việc với 203”.

Lúc này, trong Nội các có người báo phòng bên có đường phát thanh, nhưng kiểm tra thì thấy bị hỏng. Ông Vũ Văn Mẫu nói: “Nếu đưa chúng tôi sang Đài Phát thanh Sài Gòn thì phải có xe bọc thép đưa đi, nếu không phe đối lập sẽ gây nguy hiểm cho chúng tôi”.

Anh Bùi Văn Tùng nói luôn: “Bây giờ không còn phe đối lập nào ở Sài Gòn nữa, mà toàn là quân giải phóng”.
Pháo thủ Ngô Sĩ Nguyên

Như vậy, trái ngược hẳn với kết luận của Viện LSQS, những người lính đầu tiên có mặt trong dinh ĐL đã khẳng định chính ủy Bùi Văn Tùng đã có mặt tại đây từ khá sớm và đã trực tiếp xử lý các vấn đề cốt yếu nhất để nhanh chóng đưa TT Dương Văn Minh sang đài phát thanh tuyên bố đầu hàng.
Những ý kiến trái chiều
Sự kiện ông Bùi Văn Tùng có mặt tại dinh ĐL và đã tổ chức đưa TT Dương Văn Minh sang đài phát thanh cũng được Thượng tướng Nguyễn Hữu An- nguyên tư lệnh Quân đoàn 2 lúc đó xác nhận trong hồi ký của mình: “... Một cán bộ bảo vệ dẫn chúng tôi tới nơi tập trung nội các ngụy. Nhìn những gương mặt sượng sùng, không thấy Dương Văn Minh, tôi hỏi anh cán bộ bảo vệ, anh cho biết: Phạm Xuân Thệ trung đoàn phó Trung đoàn 66 và Bùi Văn Tùng chính ủy Lữ đoàn 203 đã dẫn Minh đến đài phát thanh kêu gọi ngụy quân, ngụy quyền đầu hàng. Công Trang (đại tá phó chính ủy quân đoàn- TG) sợ sổng mất Dương Văn Minh, anh nổi nóng hỏi: “Ai giao cho các cậu làm việc đó?”. Tôi phải giật áo Công Trang: “Đằng nào anh em cũng làm rồi, bình tĩnh đợi xem sao...” (Chiến trường mới- NXB QĐND 1995, tr 321).
Thế còn ý kiến của các nhân chứng có mặt tại Đài phát thanh Sài Gòn vào trưa 30-4 thì cũng chia làm hai. Các đồng đội cũ ở trung đoàn 66 bộ binh của trung tướng Phạm Xuân Thệ là thiếu tướng Hoàng Trọng Tình, đại tá Phùng Bá Đam... vẫn cho rằng chính ông Thệ đã tổ chức soạn thảo và chấp bút bản tuyên bố đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh. Còn các nhân chứng khác cũng có mặt trong khoảnh khắc lịch sử đó như: nhà báo Kỳ Nhân (lúc đó làm việc cho Hãng AP, người chụp bức ảnh duy nhất tại đài phát thanh), sinh viên Nguyễn Hữu Thái, sinh viên Huỳnh Ngọc Chênh… lại khẳng định người làm việc đó là chính ủy Bùi Văn Tùng.
Và cuộc “bút chiến” đã nổ ra khi tạp chí Xưa & Nay (thuộc Hội Khoa học lịch sử VN) thực hiện một chuyên đề dài 12 trang về diễn biến ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn. Trong đó, ông Dương Trung Quốc và các tác giả khác đã đưa ra nhiều tư liệu và luận cứ khác, nhằm gián tiếp chứng minh rằng “thông báo” của Viện Lịch sử quân sự là không đầy đủ, không khách quan và chính xác. Không lâu sau đó, tạp chí Lịch Sử Quân Sự (cơ quan của Viện Lịch sử quân sự) “đáp trả” cũng bằng một chuyên đề nhiều trang về sự kiện này.
Mọi chuyện không chỉ dừng lại ở hai tạp chí chuyên ngành. Tại Liên hoan truyền hình toàn quốc 2007, Đài truyền hình TP.HCM (HTV) đã tung ra bộ phim tài liệu lịch sử đáng chú ý, với tựa đề Dinh Độc Lập trưa ngày 30-4 của đạo diễn Lâm Thành Quí. Với những tư liệu và nhân chứng mới, bộ phim này đã gián tiếp phủ nhận “thông báo kết quả nghiên cứu” của Viện Lịch sử quân sự. Bộ phim được các thành viên giám khảo đánh giá rất cao. Sau đó HTV đã chiếu bộ phim này trên kênh HTV 9 và được dư luận rất đồng tình bởi những lập luận sắc xảo của đoàn làm phim cùng sự thuyết phục của các chứng cứ.
1- “Dinh Độc Lập trưa 30.4.1975” của HTV9
Và gần đây nhất- năm 2016, đài truyền hình VTV1 đã phát bộ phim tài liệu “Nhân chứng thứ ba”. Trong đó kể lại những gì mà những người thuộc “lực lượng thứ ba”- không thân bên nào kể lại. Tất cả các nhân chứng, vật chứng đều cho thấy vai trò của chính ủy Bùi Văn Tùng tại dinh Độc Lập và Đài phát thanh Sài Gòn trưa 30.4.1975. Các chứng nhân này cũng gián tiếp phủ định nội dung “Thông báo của Viện LSQS”.
2- “Nhân chứng thứ ba” của VTV1:

 Tuy nhiên, chưa thấy Viện LSQS có động thái gì phản ứng lại trước những luồng dư luận trái chiều đó!

Thứ Tư, 26 tháng 4, 2017

BÃO THÉP 3- TÂM BÃO- Kỳ 26


Cũng giống như Cân. Biết tin Nhã còn sống, đơn vị lại vừa thắng lớn tại Đắc Tô- Tân Cảnh nhưng Thắng cũng không thể nào vui lên được- trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triệu- người anh thân thiết, người bạn tâm giao của anh đã hy sinh anh dũng cùng kíp xe 377. Dẫu biết trong chiến tranh hy sinh, mất mát cũng là chuyện thường tình thế nhưng cái chết của Triệu và kíp xe 377 vẫn để lại trong lòng Thắng một dư âm hết sức nặng nề.
Chiều ngày hôm sau trận đánh Thắng được lệnh đánh chiếc xe dắt cùng tổ hậu cần, kỹ thuật đi cứu kéo xe hỏng và làm công tác thương binh, liệt sĩ. Sau khi khắc phục mấy chiếc xe hỏng ở căn cứ Tân Cảnh xong đội của anh mới phóng lên Đắc Tô 2. Vừa lên đến đỉnh dốc Ngã Ba một cảnh tượng vô cùng bi tráng đã hiện ra trong ánh hoàng hôn đỏ rực: cách đó chừng 600 mét, nằm ngay bên vệ đường là một chiếc xe T59 đen thui, nòng pháo thăng bằng hướng về phía trước như vẫn đang sẵn sàng nhả đạn. Dẫu không còn nhìn thấy số hiệu nữa nhưng Thắng biết chắc chắn đó là xe 377. Xung quanh nó là xác 9 chiếc xe tăng, thiết giáp Mỹ. M41 có, M113 có cháy đen nằm la liệt, nòng pháo gục xuống bẽ bàng, có chiếc vẫn đang âm ỉ khói. Thắng phóng hết tốc lực đến cạnh chiếc 377.
Xe vừa dừng Thắng đã nhảy phốc ra khỏi buồng lái. Không chờ mọi người trong đội anh trèo vội lên thành xe. Các cửa xe vẫn đóng kín. Loay hoay mất một lúc Thắng mới mở được cửa trưởng xe ra. Nhưng đập vào mắt anh là một màu đen kịt, không có ai ở trong ấy. Thắng vội quay xuống hối hả giục mọi người trong đội tìm kiếm xem có anh em nào ở xung quanh đó không. Vừa lúc đó một tốp chiến sĩ bộ binh kéo đến. Thấy các anh lùng sục xung quanh một người đã cứng tuổi bảo: “Đừng tìm nữa! Không có ai ở trong xe nhảy ra đâu! Tất cả vẫn còn nguyên trong ấy”. Rồi anh ta kể mà mắt cứ rưng rưng: “Tôi là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3, trung đoàn 1 của sư H. Hôm qua chúng tôi có nhiệm vụ tiến công cứ điểm Đắc Tô 2 này. Tầm chín giờ sáng, khi chúng tôi đã chiếm được một phần căn cứ và một góc sân bay Đắc Tô 2 thì bọn địch ra phản kích. Hơn hai chục chiếc xe tăng dàn hàng ngang theo đường băng sân bay và đường 18 lao ra bọc lấy chúng tôi. Đi sau chúng lốc nhốc dễ phải đến hơn tiểu đoàn bộ binh. Đạn các loại trên xe tăng vãi như trấu làm chúng tôi không ngóc đầu dậy được. Trong lúc đó cơ số đạn chống tăng mang theo đã gần như cạn kiệt. Nguy cơ bị tiêu diệt gọn đã hiện ra ngay trước mắt. Chúng tôi phải lợi dụng từng mô đất, từng đoạn hào để chống đỡ nhưng không lại. Muốn rút lui cũng khó khăn bởi đã bị địch bao vây ba phía- Nói đến đây anh đưa cái ống tay áo nhem nhuốc của mình quệt ngang mắt- Đúng lúc đó chiếc xe tăng này xuất hiện. Tôi còn nhớ rõ nó có số 377. Từ trên dốc Ngã Ba kia nó lao thẳng vào đội hình xe tăng địch như một con mãnh hổ. Khẩu pháo trên xe cứ một lát lại khạc ra một bụm lửa sáng lòa. Đám xe tăng địch khựng cả lại và tập trung bắn vào xe này. Vượt qua chỗ chúng tôi rồi thì chiếc xe 377 dừng lại đúng chỗ này, chắc là để lợi dụng bờ đường che chắn và lần lượt bắn cháy bốn chiếc xe tăng địch. Nhờ vậy chúng tôi củng cố lại được đội hình chiến đấu. Nhưng vừa diệt được chiếc thứ tư thì xe 377 cũng trúng đạn. Tôi nhìn rõ ngọn lửa bốc lên dữ dội ở phía sau xe, khói đen mù mịt. Nhưng lạ một điều là không thấy một ai nhảy ra cả. Lúc ngọn lửa đã trùm cả lên tháp pháo rồi mà pháo vẫn còn nổ một phát nữa thiêu cháy chiếc thứ năm- Một lần nữa người tiểu đoàn trưởng bộ binh quệt tay lên mắt, anh dừng lại một lát rồi mới sụt sịt kể tiếp-  Ngay sau đó khói lửa trùm kín lấy xe. Đúng lúc ấy hai chiếc xe của ta từ phía sau tiến đến nơi và diệt thêm mấy chiếc tăng nữa. Tiểu đoàn của tôi lập tức bám theo xe tăng để đánh địch phản kích. Tôi vừa chạy vừa ngoái nhìn về chiếc 377 đang cháy bùng bùng mà không thể nào cầm được nước mắt. Chính nó, chính chiếc xe này đã cứu chúng tôi. Nó mà không đến kịp chắc tiểu đoàn tôi đã bị ăn gỏi mất rồi”. Thắng lặng người đi, mắt rân rấn nước. Cả tổ hậu cần, kỹ thuật của anh, cả tốp chiến sĩ bộ binh cũng đứng lặng phắc, mắt người nào người ấy đỏ hoe. Lặng đi một lúc người chỉ huy bộ binh mới nhắc chiến sĩ của mình: “Bày lễ ra đi!”. Các chiến sĩ bộ binh mở ba lô, lẳng lặng đặt lên thành xe bên trái bốn nắm cơm nắm, bốn hộp thịt hộp, một con gà luộc, một bó hoa rừng và một nắm hương to. Một cái vỏ đồ hộp được một chiến sĩ vục đầy thứ bụi đỏ cao nguyên để lên làm bát hương. Thấy vẻ ngạc nhiên của Thắng người cán bộ giải thích: “Trong thị trấn Tân Cảnh đấy. Sáng nay tôi giao cho mấy tướng này bằng mọi giá phải kiếm cho tôi con gà với nắm hương. Anh em người ta hy sinh anh dũng như thế để cứu mạng mình thì mình cũng phải báo đáp chứ!”. Thắng nghẹn lời không biết nói gì. Các chiến sĩ bộ binh không cùng đơn vị mà họ chu đáo như vậy, thế mà các anh đi tìm đồng đội chỉ với hai bàn tay trắng với mấy cái túi ni- lon.
Người chỉ huy bộ binh ra hiệu cho chiến sĩ của mình đứng thành một hàng ngang. Toàn tổ của Thắng cũng tự động đứng thành một hàng phía sau. Liếc qua thấy hàng ngũ đã chỉnh tề anh ta tiến lại cạnh chiếc xe bật lửa thắp hương. Gió cao nguyên lồng lộng nên mãi một lúc sau bó hương mới bén lửa. Đưa cho mỗi người một nén hương anh bảo: “Thắp cho các anh ấy đi!”. Đợi mọi người trở về hàng anh tiến lên một bước, chắp hai tay vái ba vái một cách thành kính và lầm rầm khấn. Tiếng anh ta tuy nhỏ nhưng trong cái tĩnh mịch sâu lắng của buổi hoàng hôn Thắng vẫn nghe rõ từng lời: “Việt Nam dân chủ cộng hòa quốc, Kon Tum tỉnh, Đắc Tô huyện. Hôm nay là ngày 25 tháng 4 năm 1972, tức ngày 12 tháng 3 năm Nhâm Tý. Cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 3, trung đoàn 1, sư đoàn H kính cẩn thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh trong trận Đắc Tô 2. Kính thưa hương hồn các liệt sĩ xe tăng 377! Chúng tôi không biết tên các anh để gọi nên xin gọi chung các anh như thế. Hôm qua các anh đã hy sinh anh dũng để cho chúng tôi được sống và chiến thắng. Nếu không có các anh chắc chắn tiểu đoàn chúng tôi đã bị xe tăng địch nghiền nát và hôm nay chúng tôi cũng không còn đứng được ở đây để thắp hương cho các anh. Các anh đã hy sinh oanh liệt vì Tổ quốc, vì đồng đội. Cầu mong các anh được mồ yên, mả đẹp, phù hộ độ trì cho đất nước, cho chúng tôi sớm giành được thắng lợi! Một phút mặc niệm, bắt đầu!”.
Một ngọn gió bỗng bất thần lồng lên, bó hương bốc lửa cháy đùng đùng. Người chỉ huy bộ binh lầm rầm: “Các anh ấy về đấy! Xin các anh chứng cho lòng thành của chúng tôi!”. Nghe đến đây Thắng không nén nổi lòng mình nữa, anh khóc òa lên như một đứa trẻ. Trong đầu anh hiện lên rõ mồn một hình ảnh trung đội trưởng Triệu quắc thước, nóng nảy nhưng bộc trực, chân thành. Lái xe Vinh mảnh khảnh, lúc nào cũng nhí nhảnh, yêu đời. Pháo thủ Cao thì hiền lành, chất phác. Còn pháo hai Tiến thì chắc nịch, gan lỳ cóc tía. Tiếng khóc như có sức lây lan. Cả hàng quân người sụt sùi, người nức nở, cậu Độ thợ cơ còn quỳ sụp xuống lạy như tế sao.
Khi nắm hương đã cháy hết người tiểu đoàn trưởng bộ binh rút dao găm xẻ đôi con gà, anh đưa cho Thắng và bảo: “Theo tôi các anh không nên kéo chiếc xe này về làm gì. Dù sao nó cũng đã cháy rồi, không thể sửa chữa được nữa. Hãy để nó ở nguyên chỗ này để làm một tượng đài về lòng dũng cảm vô song của những người chiến sĩ xe tăng”.
Tốp bộ binh đi rồi Thắng lại trèo lên xe. Anh bật đèn pin lên. Dưới ánh sáng của chiếc đèn pin chỉ thấy lổng chổng đống vỏ đạn pháo. Những quả đạn pháo chưa dùng đến chắc đã bị kích nổ làm cái buồng chiến đấu trở thành một mớ hỗn độn, ngay cả  ghế của các thành viên cũng không cái nào còn nguyên vẹn. Thắng nuốt nước mắt bảo mấy anh em trong đội dọn sạch vỏ đạn và những mảnh kim loại vung vãi rồi hót hết tro ở dưới sàn xe gói vào một tấm ni- lon. Dù sao cũng có cái để mà mai táng. Còn không phân biệt được ai với ai thì cũng có sao đâu. Khi còn sống họ đã coi nhau như ruột thịt. Đến bây giờ chết rồi xương thịt của họ lại hòa lẫn với nhau thì cũng có sao đâu. Mấy anh em vừa dùng những tấm bìa vun tro lại vừa thút thít khóc.
Soi kỹ một lần nữa trong buồng chiến đấu Thắng chợt giật mình khi phát hiện thấy dưới mấy cái vỏ đạn trên vành tháp pháo một tảng tro đen ngời như tảng than kíp- lê. Đưa lên tận mắt nhìn Thắng nhận ra đấy là một nắm cơm đã cháy đen nhưng vẫn còn nguyên hình dạng. Nước mắt anh lại trào ra đầm đìa. Vậy là các anh ấy đã không kịp ăn bữa sáng hôm qua, chắc là do nhiệm vụ quá khẩn trương, gấp gáp. Thắng bồi hồi nhớ lại buổi tối hôm kia chính anh đã trao cho pháo hai Tiến nắm cơm này. Lúc đó cậu ta còn nhăn răng cười: “Anh có tăng cường thêm cho bọn em tý nào không đấy?”. Thật khổ, tiêu chuẩn chiến trường eo hẹp, đi đánh nhau mà cả kíp xe chỉ có một nắm cơm bé tẹo với tý ruốc mặn. Thế mà lại chẳng kịp ăn! Thắng quyết định gói cả nắm cơm cháy đem về.
Từ hôm ấy Thắng như trở thành một con người khác.

           ***

Chính ủy Ngọc đi rồi còn lại một mình ở tiền phương nhiều lúc phó tư lệnh Đào cũng cảm thấy trống trải. Dù sao có ông Ngọc ở đây mỗi khi tình huống xảy ra có người mà bàn bạc, trao đổi vẫn hơn. Nói cho công bằng chính ủy Ngọc không phải là dân gốc xe tăng, hiểu biết về chiến thuật cũng mức độ nhưng được cái chín chắn, mềm mỏng. Nhiều lúc vui chuyện ông vẫn trêu chính ủy Ngọc là “ông Bụt”. Những cuộc họp do ông duy trì đang căng như sợi dây đàn chỉ cần chính ủy Ngọc xuất hiện với nụ cười hiền lành và dáng vẻ điềm đạm lập tức sẽ chùng lại, mềm đi, anh em người ta phát biểu cũng thoải mái hơn. Phó tư lệnh Đào tự dặn mình sẽ phải cố gắng để làm thay cả phần việc của người chính ủy để lại. Tuy nhiên, ông biết điều đó thật khó khăn.
Hai hôm nay ông lại đi kiểm tra một vòng công tác chuẩn bị cho đợt Hai chiến dịch của hai trung đoàn. Có lẽ đã thấm thía bài học xương máu của những trận đánh không thành công hôm trước nên công tác chuẩn bị của các đơn vị chu đáo hơn bao giờ hết. Kế hoạch cơ động lực lượng và kế hoạch chiến đấu của H02 được làm tỷ mỷ đến từng chi tiết nhỏ, đã dự kiến được những tình huống thường xảy ra và cách xử trí rất cụ thể. Còn ở H03 vấn đề khó khăn nhất là tổ chức đào công sự và bí mật đưa xe tăng vào cũng đã được tháo gỡ. Đại đội công binh của trung đoàn đã tổ chức thực nghiệm đào công sự bắn cho xe tăng rất thành công, thời gian còn nhanh hơn cả dự kiến. Vấn đề đặt ra bây giờ là việc hiệp đồng với pháo binh sao cho khớp nữa thôi.
Trở lại vấn đề này máu nghiên cứu trong phó tư lệnh Đào lại nổi lên. Quả thật việc tổ chức trận địa bắn ngắm trực tiếp cho xe tăng là một phát hiện rất mới, rất độc đáo của xe tăng Việt Nam và có lẽ sẽ còn được sử dụng nhiều ở Việt Nam. Là một chiến trường mà địa hình phổ biến là đồi núi, các cứ điểm địch cũng thường xây dựng trên các điểm cao có ý nghĩa chiến thuật. Vì vậy thông thường chính diện triển khai xe tăng hết sức hạn chế, thường chỉ được một trung đội, thậm chí có khi còn phải đánh theo hàng dọc. Địa hình lại bị chia cắt nên tốc độ tiến công cũng sẽ rất chậm và đặc biệt là rất khó phát huy hỏa lực tiêu diệt mục tiêu. Trong trường hợp đó trận địa bắn ngắm trực tiếp sẽ là cứu cánh. Chỉ cần một trung đội xe tăng trong công sự sẽ dễ dàng quét sạch các mục tiêu ở tiền duyên địch trong vòng vài phút, sẽ yểm trợ đắc lực cho đội hình chủ lực xung phong. Tại vị trí đó xe tăng cũng có thể dùng pháo diệt các mục tiêu trong chiều sâu phòng ngự địch để chi viện lực lượng chính phát triển chiến đấu. Hoàn thành nhiệm vụ bắn trực tiếp rồi chính trung đội này có thể tham gia xung phong, đánh địch phản kích, truy kích địch rút chạy hoặc chuyển sang làm nhiệm vụ khác. Có lẽ sau trận này phải nhanh chóng tổng hợp, rút kinh nghiệm và phổ biến rộng rãi trong binh chủng, rồi còn phải đưa vào giáo trình huấn luyện chiến thuật ở các nhà trường. Đầy hứng khởi phó tư lệnh Đào mở cuốn sổ tay dày đặc chữ của mình lật một trang mới và nắn nót viết một hàng chữ in: “TỔ CHỨC TRẬN ĐỊA XE TĂNG BẮN NGẮM TRỰC TIẾP- MỘT KINH NGHIỆM HAY CẦN PHỔ BIẾN RỘNG RÃI”.

Nhoáng một cái ông đã lia được hơn chục dòng thứ chữ nhỏ ly ty như con kiến nhưng đều tăm tắp. Nhưng rồi ông lại đặt bút xuống trầm ngâm. Không, có lẽ cần phải suy nghĩ kỹ hơn. Đúng là hay thật đấy nhưng không phải không có những khó khăn cần tháo gỡ. Làm thế nào để đào được công sự một cách bí mật? Đưa xe tăng vào thế nào? Không quân địch mạnh như thế liệu một trận địa bắn lồ lộ ra đó có tồn tại được không? Lại còn vấn đề đạn nữa chứ, cơ số đạn của T54 chỉ có hơn ba chục viên. Với tốc độ bắn khi tại chỗ lên tới 6- 7 phát một phút thì mấy mà hết, lúc chuyển sang làm nhiệm vụ khác thì đạn lấy đâu ra? v.v… Có lẽ phải trả lời được thấu đáo những câu hỏi này thì mới đem áp dụng rộng rãi được. Và các trận đánh của H03 sắp tới sẽ lại là một thử nghiệm để tìm ra những câu giải đáp này. Nghĩ đến đây ông quyết định gập sổ lại và bước ra ngoài hầm vươn vai mấy cái. Nhìn bầu trời đầy mây và không còn xanh ngắt như mọi ngày ông thấy thoáng chút lo lắng: “Mùa mưa năm nay có vẻ đến hơi sớm. Nếu không đánh nhanh chắc chắn sẽ gặp khó khăn”.

SỰ KIỆN 30.4.1975- LỊCH SỬ KHÔNG CHẤP NHẬN SỰ NGOẮT NGOÉO, MÙ MỜ

Mới chỉ xảy ra 40 năm mà sự kiện “Ai là người bắt và thảo lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh- Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 30.4.1975” vẫn còn rất mù mờ và tốn không biết bao giấy mực của báo chí, đồng thời cũng tạo nên một dư luận rất không hay về độ chân thực của lịch sử nước nhà.

Tuy vậy, cho đến giờ vẫn chưa có một kết luận cụ thể, rõ ràng về sự kiện này. Ai là người bắt giữ Tổng thống (TT) Dương Văn Minh và nội các? Ai là người đã đưa ra quyết định đưa TT Dương Văn Minh ra Đài phát thanh? Ai dẫn giải TT Dương Văn Minh ra Đài? Tại Đài phát thanh, ai là người soạn thảo văn kiện tuyên bố đầu hàng cho TT Dương Văn Minh?...  Đó là ông Bùi Văn Tùng- nguyên Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 hay ông Phạm Xuân Thệ- nguyên trung đoàn phó Trung đoàn BB 66 hay là một ai khác? Nếu cứ để thời gian trôi qua và các nhân chứng sống lần lượt qua đời thì sự việc chỉ càng thêm mù mờ, rối rắm mà thôi. Trong lúc vẫn còn một số nhân chứng sống sự việc này cần được làm cho sáng tỏ ngay! Không lẽ để đến hàng trăm năm sau con cháu chúng ta sẽ phải tốn rất nhiều công sức và tiền của nghiên cứu để tìm ra sự thật mà câu trả lời không quá khó với chúng ta ngay bây giờ?

Theo dòng sự kiện
 Giở lại những trang báo sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 cùng rất nhiều hồi ức, ghi chép... về các sự kiện xảy ra tại dinh Độc Lập (ĐL) cũng như Đài phát thanh Sài Gòn ngày đó đâu đâu cũng chỉ thấy nói: “Trung tá chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng đã tổ chức bắt Dương Văn Minh tại dinh ĐL, đưa ông ta ra Đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng và chính ông là người thay mặt Quân giải phóng tiếp nhận đầu hàng của Tổng thống VNCH. Chính quyền VNCH từ trung ương đến địa phương nhanh chóng tan rã, các đơn vị quân đội VNCH cũng lần lượt buông súng đầu hàng”... Với những thành tích đó, ngày 17 tháng Năm năm 1975 tại Phòng khánh tiết dinh Độc Lập ông đã được thay mặt đại diện 5 cánh quân đón nhận cái ôm hôn thắm thiết của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng.

Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ôm hôn chính ủy Bùi Văn Tùng.

Mọi chuyện tưởng như đã rõ như ban ngày nhưng không phải vậy! Năm 1985, trên một số báo đài xuất hiện các bài trả lời phỏng vấn của ông Phạm Xuân Thệ- nguyên đại úy trung đoàn phó Trung đoàn BB 66 (năm 1975) cho rằng chính ông mới là người bắt giữ TT Dương văn Minh, đưa ông ta sang Đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Chỉ đến khi việc đã gần xong ông Bùi Văn Tùng mới xuất hiện và tham gia vào đoạn cuối của câu chuyện.
Hãy nghe ông Thệ kể: “…Tôi đến cửa, toàn bộ nội các của họ đứng dậy chào. Vẻ mặt ai cũng bồn chồn lo lắng, có người lúng túng sợ sệt. Tổng thống Dương Văn Minh chậm rãi: “Biết quân giải phóng đã vào thành phố, nội các chúng tôi đang chờ các ông để bàn giao”. Tôi nói dứt khoát: “Các ông phải đầu hàng vô điều kiện. Yêu cầu tất cả xếp hàng đôi ra khỏi ngôi nhà này”. Tổng thống Dương Văn Minh khẩn khoản: “Chúng tôi xin được ở đây. Ra ngoài bây giờ không an toàn”. Tôi ra lệnh: “Các ông phải ra ngay đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện”. Sau đó tôi đưa ông ta ra đài phát thanh.
Phạm Xuân Thệ
Tôi thảo bản tuyên bố: “Tôi – Dương Văn Minh – tổng thống chính quyền Sài Gòn, tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước sức mạnh của quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi kêu gọi chính quyền từ trung ương đến địa phương giải tán toàn bộ, trao lại cho quân giải phóng miền Nam Việt Nam”. Ông ta phản đối chữ “tổng thống”, đòi đổi thành “đại tướng”, tôi không chịu: “Đã nhận chức tổng thống mới một ngày hay một giờ ông cũng là tổng thống”. Văn bản đang được soạn thảo thì trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng mới xuất hiện, và sau đó cùng tiếp tục thảo và hoàn chỉnh lời tuyên bố đó.
Tiếp đó là một loạt cuộc tranh luận, đối chất và dư luận bị phân hóa thành 2 luồng trái ngược nhau. Sự căng thẳng đến mức Ban Tuyên giáo TƯ phải chỉ đạo Viện Lịch sử quân sự (LSQS) tổ chức nghiên cứu để kết luận về vụ việc này. Sau một thời gian nghiên cứu tư liệu, gặp gỡ nhân chứng, tổ chức hội thảo... Viện LSQS đã đưa ra một bản kết luận có rất nhiều khác biệt so với những gì người ta từng biết trước kia.
Trích kết luận của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

Cuộc Hội thảo về Sự kiện 30.4.1975 tại dinh ĐL đã được Viện LSQS tổ chức ngày 19.10.2005 với sự tham gia của một số nhân chứng. Kết thúc Hội thảo, Viện LSQS đã đưa ra kết luận với các nội dung chủ yếu như sau:
...
“2 – Về việc bắt Tổng thống Dương Văn Minh cùng nội các chính quyền Sài Gòn ở dinh Độc Lập và áp giải Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu sang đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng:
Trong mũi tiến công thọc sâu bằng sức mạnh tổng hợp của quân đoàn 2 (gồm Lữ đoàn xe tăng 203, Trung đoàn bộ binh 66 và các lực lượng phối hợp) vào sào huyệt cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, Đại đội 4 xe tăng (thuộc Lữ đoàn 203) là đơn vị tiến công, đột nhập vào dinh Độc Lập đầu tiên và đồng chí Bùi Quang Thận là người thực hiện việc kéo cờ giải phóng trên nóc Dinh.
Cùng lúc đó, một số cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 do Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ chỉ huy tiến vào dinh Độc Lập, lên tầng 2 bắt Tổng thống Dương Văn Minh cùng nội các ở phòng họp và áp giải Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu sang đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng.
3 – Về việc thảo lời tuyên bố đầu hàng và tuyên bố chấp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh:
Tại đài phát thanh đồng chí Phạm Xuân Thệ cùng các cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 tổ chức soạn thảo lời Tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh. Văn bản đang được soạn thảo, thì Trung tá Bùi Văn Tùng – Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 xuất hiện. Từ đó, bộ phận cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 dưới sự chỉ đạo của đồng chí Bùi Văn Tùng tiếp tục soạn thảo và hoàn chỉnh lời Tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm để phát trên đài phát thanh.
Riêng lời Tuyên bố chấp nhận đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh do đồng chí Bùi Văn Tùng soạn thảo và trực tiếp đọc trên đài phát thanh”.

Với kết luận này thì ông Phạm Xuân Thệ là nhân vật chính xử lý mọi việc ở dinh ĐL và cả ở đài phát thanh, còn trung tá Bùi Văn Tùng thì không hề có mặt tại dinh Độc Lập và chỉ như một người vô tình ghé qua Đài phát thanh nhưng chỉ do có quân hàm cao nên được tham gia vào đoạn cuối của sự kiện mà thôi!

Lịch sử cũng được viết lại
Sự thay đổi không chỉ diễn ra trên mặt báo mà còn đi vào chính sử, làm thay đổi cả sách lịch sử của một số đơn vị liên quan. Xin mời các bạn xem 2 đoạn văn mô tả sự kiện trưa 30.4.1975 của cùng một cuốn sách viết về lịch sử Lữ đoàn xe tăng 203 song được in ở 2 thời điểm khác nhau: 1990 và 2000 thì sẽ rõ người ta đã viết lại LS thế nào. 
Cuốn in năm 1990 viết: “... Lúc ấy là 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cùng thời gian đó Phó trung đoàn trưởng 66 Phạm Xuân Thệ cùng đồng chí trung tá Bùi Văn Tùng Chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 và một số cán bộ, chiến sĩ xe tăng, bộ binh, công binh, pháo binh, vệ binh của binh đoàn, một số chiến sĩ biệt động Sài Gòn tiến thẳng vào phòng họp bắt toàn bộ bọn đầu sỏ ngụy quyền trung ương...
Dương Văn Minh và toàn thể nội các ngụy hiểu rất rõ sức mạnh áp đảo của CM, chúng chỉ có một con đường đầu hàng vô điều kiện”(Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2 xuất bản 1990, tr 132).
Cũng cuốn này còn trích từ cuốn “Binh đoàn Hương Giang”- NXBQĐND in năm 1985, tr 201: “Các đồng chí Nguyễn Tất Tài lữ đoàn trưởng, Bùi Văn Tùng Chính ủy Lữ đoàn 203 xe tăng và cán bộ chiến sĩ binh đoàn vinh dự là những người trong đội hình của lực lượng thọc sâu tiến vào dinh Độc lập đầu tiên, thay mặt anh em bắt TT Dương Văn Minh đến máy ghi âm đọc bản tuyên bố xin hạ vũ khí đầu hàng vô điều kiện QGP miền nam Việt Nam. Quân đội ta lập tức công bố đã chiếm dinh ĐL, bắt sống toàn bộ nội các và TT ngụy”(sách đã dẫn- tr 133).
Song vẫn sự kiện trên trong cuốn Lịch sử Trung đoàn xe tăng 203 in năm 2000 thì viết: “Lúc ấy là hơn 11 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Cùng thời gian đó trung đoàn phó Trung đoàn BB66 Phạm Xuân Thệ cùng một số  trong lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 và biệt động thành tiến vào phòng họp bắt TT Dương Văn Minh cùng toàn bộ những nhân vật chủ chốt của nội các chính quyền SG. Ngay sau đó đồng chí Phạm Xuân Thệ cùng một sốcán bộ, chiến sĩ áp giải TT Dương Văn Minh đến đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng.
Trong lúc đồng chí Phạm Xuân Thệ và các đồng chí cán bộ Trung đoàn 66 soạn thảo nội dung Lời tuyên bố đầu hàng thì đồng chí Bùi Văn Tùng chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 đến. Mọi người cùng tham gia soạn thảo tiếp để Dương Văn Minh đọc trên đài phát thanh. Vì chữ đồng chí Thệ khó đọc. Dương Văn Minh không đọc nổi, đồng chí Thệ Phải đọc cho Dương Văn Minh chép lại” (Lịch sử Trung đoàn xe tăng 203- NXB QĐND- 2000, tr145).

Như vậy, chỉ trong vòng 10 năm mà lịch sử của một đơn vị đã được thay đổi rất nhiều. Vậy đâu là sự thật?

            (Xin lưu ý, từ năm 1995 ông Phạm Xuân Thệ là tư lệnh Quân đoàn 2, phó bí thư  đảng ủy quân đoàn và Chủ tịch Hội đồng KHQS của quân đoàn)

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

BÃO THÉP 3- TÂM BÃO- Kỳ 25


Vào chiều hôm đó Hòa đen đang có mặt tại bờ bắc sông Cửa Việt. Các anh đang chờ trời tối để vượt sông sang phía bên kia. Bài học về sự không nắm chắc địa hình trong chuyến vượt sông đánh Đông Hà còn nhức nhối trong tâm can đội ngũ cán bộ H02 nên ngay sau cuộc họp rút kinh nghiệm ở Bộ tư lệnh tiền phương về, biết nhiệm vụ của trung đoàn mình chủ yếu tác chiến ở cánh Đông trung đoàn trưởng Lãm đã quyết định phải tổ chức ngay một chuyến trinh sát. Mặc dù người chỉ huy bộ binh đã nêu ra rất nhiều khó khăn khi thâm nhập sang bờ nam sông Cửa Việt nhưng Lãm vẫn kiên quyết đòi đi. Thấy vậy đồng chí tư lệnh cánh Đông đành phải ra lệnh cho lực lượng địa phương tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho đoàn. Huyện đội Gio Linh cử hẳn một tổ trinh sát dẫn đường và lo liệu phương tiện vượt sông. Thật may cho các anh, không hiểu tính toán thế nào mà trước hôm đoàn trinh sát lên đường bọn địch lại rút hết quân khỏi Cửa Việt. Nghe nói bọn chúng kéo về để tăng cường phòng tuyến xung quanh Ái Tử. Thế là đỡ đi được một gánh nặng. Sau gần một ngày đi dọc bãi biển để nắm lại tình hình đường sá tầm ba giờ chiều họ đã tới bờ bắc sông Cửa Việt. Núp mình sau những gốc phi lao và mấy bụi dứa dại cằn cỗi họ tranh thủ quan sát tình hình ở phía bên kia.
So với Bến Hải thì Cửa Việt rộng hơn nhiều, lòng sông đoạn này dễ đến gần một cây số, nhìn cứ ngút cả tầm mắt. Gặp ngày biển lặng nên sóng chỉ lăn tăn làm cho lòng sông như rộng thêm ra. Phía quân cảng hôm nay vắng lặng như tờ, không còn bóng dáng một tên địch nào. Một lúc sau họ đã xác định được bến vượt ở phía tây cảng chừng hơn một ki- lô- mét. Chỗ đó bờ sông cả hai bên đều thoải và lòng sông không quá rộng như ngoài cửa biển. Chiều cũng đã muộn, trung đoàn trưởng Lãm hạ lệnh nghỉ ăn chiều để đợi trời tối sẽ vượt sông.
Đối với Hòa đen thì kỷ niệm về chuyến vượt sông Bến Hải hôm trước là một kỷ niệm đầy chua xót. Đã không tham gia chiến đấu được lại còn bị tổn thất nặng nề về người và trang bị. Mặc dù được thăng chức đại đội phó giữ quyền đại đội trưởng thay cho Uy bị thương nhưng anh không lấy thế làm vui. Anh biết rằng sau cú sốc đó không ít chiến sĩ của mình bị nao núng tinh thần. Kể cũng dễ hiểu thôi, vừa mới nhập ngũ được vài tháng, học chưa hết chương trình đã phải đi chiến đấu. Thế rồi vừa chân ướt, chân ráo tới chiến trường lại bị một đòn chí mạng của không quân, pháo hạm địch. Xe cháy, người chết, người bị thương… ai mà không choáng. Đã thế, mấy hôm sau lại còn tin cả một chiến đoàn xe tăng bị tiêu diệt ở Quảng Trị dội về. Rồi tiếng thằng pháo thủ chiêu hồi từ trên chiếc L19 cứ ra rả suốt mấy ngày liền… Trong tiểu đoàn đã lác đác có hiện tượng bỏ ngũ. Ở đại đội của Hòa thì chưa có trường hợp nào nhưng nhìn vào mắt chiến sĩ của mình Hòa hiểu. Đằng sau những ánh mắt đảo nhanh vội quay đi khi gặp mắt anh có một cái gì đó rất mong manh và chỉ cần thêm một tác động trái chiều dù rất nhỏ thôi cũng sẽ đổ vỡ.
Thật may, bên cạnh anh vẫn còn có chính trị viên Hợp và rất nhiều chiến sĩ vững vàng. Nhất là pháo thủ Nhật. Cậu cựu cầu thủ đội bóng trường cấp 3 Nguyễn Trãi tuy còn trẻ tuổi nhưng tỏ ra rất già dặn. Chính Nhật là một cầu nối quan trọng để anh và các cán bộ trong đại đội hiểu sâu sắc hơn tâm tư, nguyện vọng các chiến sĩ trẻ trong đại đội mình. Cũng chính Nhật có ý kiến với các anh hãy đừng rao giảng dông dài về mục đích, lý tưởng rồi tình hình nhiệm vụ mới nữa. “Cái này bọn em nghe mãi rồi, nói nhiều nữa nhàm cả tai”- cậu ta bảo thế. Hỏi “thế các cậu muốn nghe cái gì?” thì cậu ta thủng thẳng: “Em không biết các anh nghĩ thế nào chứ bọn em chỉ muốn nghe, muốn biết những cái gì gần gũi nhất, dễ hiểu nhất chứ những thứ kia bọn em thuộc lòng cả rồi”. Thấy Nhật nói có lý anh bàn với chính trị viên Hợp phải thay đổi nội dung cũng như cách thức sinh hoạt, họp hành. Họ thống nhất với nhau sẽ ít nói những lời cao siêu mà phải đi vào thực tế, không giấu diếm chiến sĩ những khó khăn, gian khổ đang đợi họ và phải hướng dẫn họ làm thế nào để sống được, làm thế nào để vượt qua. Mà phải cố gắng để cho chiến sĩ nói lên được suy nghĩ thật của mình, kể cả những vướng mắc, những ấm ức đối với cấp trên. Thế là những buổi học chính trị của đại đội Hòa trở thành những buổi trao đổi, rút kinh nghiệm rất sinh động và bổ ích. Anh cũng yêu cầu các cán bộ trung đội khi huấn luyện bộ đội phải chú ý đưa vào những vấn đề sát sườn nhất cho cuộc chiến đấu. Bản thân anh khi lên lớp cũng thường kể lại những câu chuyện chiến đấu của đại đội mình, xe mình và chính bản thân mình trước kia. Có lẽ chính điều đó đã tạo ra sự chuyển biến rất mạnh mẽ trong tư tưởng chiến sĩ. Đã thấy lại những nụ cười hồn nhiên, những câu đùa tếu táo. Điều làm Hòa yên tâm nhất là những ánh mắt trong trẻo, bộc trực không còn vội quay đi  khi gặp mắt anh.
Dựa vào một gốc phi lao cụt Hòa nửa nằm nửa ngồi nhẩn nha nhai bánh lương khô. Anh không tham gia vào câu chuyện tếu táo của nhóm cán bộ mà nhớ lại ngày Nhật mới được bổ sung về xe mình. Nhìn cái mặt búng ra sữa Hòa trêu: “Đã đủ tuổi đi bộ đội chưa đấy?”. Cậu ta cười: “Đúng là còn thiếu sáu tháng nữa. Nhưng nghe nói xe tăng về tuyển em kỳ kèo xin đi bằng được”. Nghe giọng cậu ta Hòa bật cười: “Thích đi xe tăng đến thế cơ à?”. Cậu ta hồn nhiên: “Anh đã xem “Chiến công Phai- Khắt chưa? Bộ đội xe tăng như thế ai chả mê”. Biết cậu ta đã có giấy gọi vào đại học Tổng hợp rồi mà vẫn đi bộ đội, Hòa hỏi: “Sao không ở nhà đi đại học mà lại đòi đi bộ đội?” thì cậu ta thủng thẳng: “Nhà em chưa có ai đóng góp nên em không được đi. Nhưng em cũng chẳng tiếc. Đi bộ đội vài năm về học sau cũng không muộn”. Ngẫm nghĩ một lát cậu ta thêm: “Với lại còn bụng dạ đâu mà ngồi học nữa. Bạn bè thì đã đi hết cả, còn lại một lũ con gái. Chán mớ đời!”. Cao ráo, đẹp trai, học giỏi, đá bóng được, chắc là khối cô thầm mong trộm nhớ nhưng kiên quyết: “Không yêu đương gì cả. Đi thế này một sống, hai chết. Lằng nhằng vào chỉ làm khổ người ta”. Nghe câu này Hòa khoái chí vô cùng. Thế là anh lại có một đồng minh. Mà sao cậu ta nói ra cái câu đó nhẹ nhàng đến vậy. Chính sự dứt khoát của Nhật đã củng cố lập trường của Hòa khi anh phải đối phó với sự “tấn công” của cô dân quân Vĩnh Thạch khi các anh quay ra tập kết ở đó. Không ai nghĩ cái mặt non choẹt như thế, đêm gác còn sợ ma, cơm không biết nấu mà lại dám ghì chặt đại liên nhằm thẳng vào cái máy bay đang lao xuống đầu mình mà bắn. Ấy thế mà khi anh thăm dò định bồi dưỡng trở thành đối tượng đảng và có hướng phát triển làm cán bộ thì lại thủng thẳng: “Không! Em chỉ làm lính thôi, đánh nhau cho đến hòa bình thì về đi học. Nếu làm cán bộ thì lúc ấy lại phải ở quân đội suốt đời. Em không thích!”. Chắc cậu ta nói thật vì trong cái ba lô lép kẹp của Nhật anh đã thấy có mấy quyển sách giáo khoa lớp Mười. Lúc rỗi rãi vẫn thấy cậu ta giở ra nghiền ngẫm. Phải động viên mãi cậu ta mới nhận làm trưởng xe cái xe 234 khi anh chuyển về xe đại đội trưởng. Hòa thú vị bật cười khi nhớ lại câu nói của Nhật hôm ấy: “Em làm tạm thôi đấy! Khi nào các anh bồi dưỡng được ai thì em trả lại ngay”. Có cái gì đó hơi giống nhau giữa Nhật và Thắng, người đồng đội cũ của anh ở xe 567 ngày trước.
Còn lái xe Toản, có hơi ông cụ non một tý nhưng ân cần, chu đáo lại giỏi kỹ thuật. Những hư hỏng thông thường lái xe khác phải gọi kỹ thuật viên hoặc thợ, riêng đối với Toản lúc nào cũng chỉ là “chuyện vặt”. Phát hiện ra có vấn đề, cứ để đấy, làm điếu thuốc lào đã. Sau vài phút ngất ngư vì khói thuốc xắn tay áo lên “phút mốt, xong ngay”. Chỉ phải cái tội hơi máu gái, đóng quân ở đâu ngày trước ngày sau đã thấy có “em” để tâm sự. Cậu ta vẫn thường bĩu môi chê Nhật “ngốc nghếch”: “Tội quái gì! Mình thì đỡ buồn mà các em thì cũng vui”. Hòa không tán thành với cách nghĩ ấy nhưng anh cũng tặc lưỡi bỏ qua, chỉ nhắc nhẹ: “Làm sao thì làm, đừng để lại hậu quả cho người ta mà mang tội”.
Ngồi nghĩ về những người đồng đội bây giờ Hòa lại lan man nhớ về Nhã, về Cân, về Thắng- những người đồng đội của anh trong kíp xe 567 năm nào. Mỗi người một tính một nết, có ưu, có khuyết nhưng đều tốt đẹp làm sao. Có lẽ số phận đã ưu ái anh, ban cho anh những người đồng đội, những người bạn thật tuyệt vời. Hôm nghe tin xấu về Nhã, Hòa đã lẻn ra rừng cao su khóc một mình. Anh thương Nhã một thì thương mẹ Nhã, thương Hiền mười. Chỉ đến khi các thủ trưởng đi họp về nói lại đầu đuôi câu chuyện anh mới như trút được gánh nặng trong lòng.
Trời tháng Ba ta sập tối thật nhanh. Nhưng khi ánh sáng mặt trời vừa tắt thì mọi người mới phát hiện ra mặt trăng như một cái đĩa bạc đã treo lơ lửng trên bầu trời tím thẫm đằng đông. Ngước nhìn mặt trăng đã gần tròn trung đoàn trưởng Lãm ngơ ngác:
- Ơ! Đã sắp đến rằm rồi cơ à? Chết thật! Bận đến nỗi chẳng nhớ gì đến ngày tháng nữa.
Mấy chiếc thuyền nan của du kích địa phương nhẹ nhàng cặp sát bờ. Người chiến sĩ dẫn đường hối thúc cả đoàn nhanh chóng xuống thuyền vượt sông. Đêm hôm đó và ngày hôm sau họ đã len lỏi đi sâu vào vùng địch. Thật may hệ thống đường sá phía bờ nam Cửa Việt tốt hơn nhiều so với bờ Bắc. Trung đoàn trưởng Lãm phấn khởi ra mặt. Nỗi lo về đường cơ động của anh đã nhẹ hẳn đi. Lãm cũng đã quyết định chọn thôn Hà Tây làm nơi đặt sở chỉ huy và lực lượng dự bị, còn thôn Vĩnh Huề làm vị trí tập kết trước chiến đấu cho tiểu đoàn 66. Mọi việc thuận lợi hơn dự định nên rạng sáng ngày thứ ba các anh đã trở ra Vĩnh Thạch.

 ***

Rồi thì những lo lắng, hoài nghi của Cân cũng được bức điện của Bộ tư lệnh Thiết giáp gửi vào giải tỏa. Thế là đã rõ, Nhã vẫn còn sống và không hề có chuyện cả đại đội anh bị tiêu diệt như đài địch đưa tin. Tuy vậy Cân vẫn không sao vui lên được. Hơn một tuần nay, tiểu đoàn anh tham gia tiến công An Lộc đã bốn trận rồi mà vẫn chưa làm chủ được cái thị xã bé như “mắt muỗi” này. Đã thế lại bị cháy mất hơn chục xe, cán bộ, chiến sĩ thương vong cũng nhiều. Tiểu đoàn có ba đại đội thì đại đội 6 và đại đội 8 đã gần như bị xóa sổ, chỉ còn đại đội 10 của anh là tương đối nguyên vẹn. Là chính trị viên phó đại đội, mặc dù không trực tiếp tham gia chiến đấu nhưng phải làm công tác thương binh, tử sĩ nên Cân thấm thía hơn ai hết những tổn thất của đơn vị mình. Nghe nói Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định sẽ tổ chức đánh trận quyết định trong mấy ngày tới Cân quyết định lên gặp tiểu đoàn trưởng Nghi. Vì là chỗ quen biết cũ nên Cân bỗ bã:
- Anh Nghi! Nghe nói mình lại chuẩn bị đánh tiếp à?
Nghi mệt mỏi gật đầu:
- Ừ! Tớ cũng vừa mới nhận nhiệm vụ về chưa kịp triển khai, chắc khoảng dăm hôm nữa sẽ đánh trận quyết định.
Cân thảng thốt:
- Các anh phải nghĩ cách làm sao chứ cứ đánh như mấy trận vừa rồi thì chỉ  có đốt hết xe thôi.
Tiểu đoàn trưởng Nghi buồn bã buông thõng:
- Tớ cũng đang nẫu cả ruột đây. Thế cậu bảo phải làm gì bây giờ?
Bị Nghi vặn lại Cân đâm bí. Thực ra qua theo dõi mấy trận đánh vừa rồi Cân thấy xe tăng bị thiệt hại nặng chủ yếu là vì đội hình chiến đấu giữa xe tăng và bộ binh bị cắt rời. Không được bộ binh yểm hộ, mấy chiếc xe tăng đơn thương độc mã trong thị xã bị bọn địch nấp trong các ngõ hẻm hoặc nhà cao tầng dùng súng chống tăng diệt hết chiếc này đến chiếc khác. Mặt khác, do lực lượng phòng không của mặt trận quá yếu nên máy bay địch gần như hoàn toàn làm chủ bầu trời, chúng tự do bay lượn dùng hỏa tiễn và bom tập trung đánh vào đội hình tiến công dưới đất như đánh đáo làm gì mà chẳng cháy, chẳng tổn thất. Nhưng làm thế nào để khắc phục tình trạng này thì Cân chưa nghĩ ra, cuối cùng anh cũng mạnh dạn phát liều:
- Anh phải có ý kiến với bên bộ binh, bảo họ phải bám sát lấy xe tăng, hai bên yểm hộ, bảo vệ lẫn nhau ấy. Rồi còn phải đề nghị tăng cường thêm ít cao xạ nữa mới được.
Nghi lắc đầu cười buồn:
- Biết thế! Họp hành rút kinh nghiệm tớ cũng đã có ý kiến rồi. Nhưng cậu thấy đấy, đặc điểm tác chiến thành phố, thị xã nó khác. Từ trước đến nay anh em ta chỉ mới được huấn luyện đánh địch phòng ngự trong công sự vững chắc ở vùng đồi núi. Chính vì vậy khi tiến công điểm cao 128, sân bay Đồng Long và trận Núi Gió của đại đội cậu hôm kia đều thắng lợi. Nhưng cứ vào thị xã thì y như rằng lại “sứt đầu, mẻ trán”.- Anh phẩy tay ra chiều bất lực- Đường thì thẳng tắp, trống trơn, xe tăng thì tiến theo hàng một, bộ binh thì bị máy bay đánh cho tan tác không thể bám sát xe tăng. Thế cho nên dẫu có rút kinh nghiệm rồi đấy nhưng cũng chẳng cải thiện được tình hình. Mà ở trong này lực lượng phòng không thì quá yếu, chỉ trông chờ vào mấy khẩu cao xạ tự hành của mình nên bọn máy bay nó muốn làm gì thì làm. Bộ binh thì chưa quen tác chiến hiệp đồng, cứ ỷ lại vào xe tăng. Đến lúc bị máy bay nó ngăn chặn lại mặc cho xe tăng “đơn thương, độc mã” chiến đấu. Cậu bảo tớ phải làm gì bây giờ?
Ngồi nín lặng một lúc Cân đứng dậy:
- Tôi không biết! Nhưng dù thế nào các anh cũng phải tìm mọi cách không để tình trạng này tái diễn nữa. Biết bao nhiêu mồ hôi, xương máu mới đưa được một một cái xe tăng vào đây mà mới có mấy hôm đã tiêu hơn chục chiếc rồi. Người thì cũng đã thương vong cả đống. Cứ như thế thì chả mấy mà tiểu đoàn ta bị xóa sổ.

Dứt lời Cân đi thẳng chẳng chào hỏi gì để lại một mình tiểu đoàn trưởng Nghi ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Tuy nói vậy song Cân cũng rất thông cảm với tiểu đoàn trưởng của mình. Quả thật đây là một bài toán cực kỳ nan giải.

SÁNG KIẾN NHỎ- HIỆU QUẢ TO- TỪ NAY KHÔNG QUÁ LO HẾT ĐẠN

Sáng kiến nhỏ nhưng hiệu quả to - Xe tăng Việt Nam từ nay không quá lo hết đạn!
Lữ đoàn xe tăng 273 trên bãi tập. Ảnh minh họa:Tiền Phong.

Với một sáng kiến không quá phức tạp, các chiến sĩ của Lữ đoàn xe tăng 273, Quân đoàn 3 đã giải quyết được mối lo canh cánh trong lòng: thiếu đạn trong chiến đấu.

Là lực lượng đột kích của Lục quân, thường tham gia đột phá trên các hướng chủ yếu của trận đánh, chiến dịch, mục tiêu chủ yếu của xe tăng là xe tăng, thiết giáp của đối phương, các loại hỏa khí, lô cốt công sự chiến đấu kiên cố và cả bộ binh địch. Vì vậy, lượng đạn dược xe tăng sử dụng trong mỗi trận đánh thường khá lớn.
Và một trong những niềm mong muốn cháy bỏng của các chiến sĩ xe tăng là có nguồn đạn dồi dào để sử dụng.
Cơ số đạn của xe tăng - Không phải muốn bao nhiêu cũng được
Đạn dược là loại vật tư đặc biệt trực tiếp tiêu diệt các mục tiêu của đối phương. Vì vậy, khối lượng đạn dược tiêu hao trong các trận đánh, các chiến dịch thường rất lớn.
Đối với những người trực tiếp chiến đấu - những người trực tiếp sử dụng vũ khí, đạn dược thì lúc nào cũng mong muốn có được thật nhiều đạn để dùng. Đó là một mong muốn hết sức chính đáng!
Sáng kiến nhỏ nhưng hiệu quả to - Xe tăng Việt Nam từ nay không quá lo hết đạn! - Ảnh 1.
Tuy nhiên, mong muốn đó không phải lúc nào cũng được đáp ứng mà còn phụ thuộc vào rất nhiều vấn đề. Xuất phát từ yêu cầu của thực tế và các yếu tố chi phối người ta đã xây dựng lên khái niệm cơ số đạn cho từng đơn vị vũ khí, trang bị.
Cơ số đạn là số lượng đạn dược tối thiểu trang bị cho một đơn vị vũ khí, phương tiện chiến đấu... nhằm để hoàn thành một nhiệm vụ, trong một thời gian nhất định- thường là một trận đánh ở cấp chiến thuật.
Để tính toán cơ số đạn dược phải căn cứ vào tính năng, tác dụng, cấu tạo... của vũ khí trang bị, khả năng mang vác, vận chuyển... của người sử dụng hoặc của phương tiện đó.
Đối với xe tăng, yếu tố quyết định đến việc xác định cơ số đạn chủ yếu thường là do không gian của buồng chiến đấu (hoặc của cơ cấu nạp đạn tự động).
Là loại phương tiện chiến đấu bọc giáp, thường dẫn đầu trong các cuộc đột phá nên xe tăng thường có kích thước nhỏ gọn, do vậy không gian trong buồng chiến đấu cũng hết sức chật hẹp. Cũng vì vậy không thể tăng cơ số đạn lên mức vô hạn được.
Sáng kiến nhỏ nhưng hiệu quả to - Xe tăng Việt Nam từ nay không quá lo hết đạn! - Ảnh 2.
Đánh chiếm cầu Thị Nghè sáng 30/4/1975. Ảnh tư liệu.
Tùy theo cỡ pháo và khối lượng mỗi viên đạn mà cơ số đạn của xe tăng hiện đại dao động trong khoảng 30- 50 viên. Trong đó, tỷ lệ đạn xuyên với đạn nổ phá sát thương không nhất định mà có thể điều chỉnh linh hoạt căn cứ vào tính chất mục tiêu trong mỗi trận chiến đấu. Kể cả đối với các loại xe tăng có hệ thống nạp đạn tự động cũng vậy.
Với một cơ số đạn như vậy, trong những trận đánh mà thời gian bị kéo dài thì nỗi lo hết đạn với các chiến sĩ xe tăng là nỗi lo hiện hữu. Trong thực tế, đã có những trận đánh như vậy.
Chẳng hạn, Đại đội xe tăng 5, Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn xe tăng 203 do không được tiếp đạn kịp thời từ các trận đánh trước nên trong trận đánh căn cứ Nước Trong sáng 28.4.1975 có 3 xe đã nhanh chóng bị hết đạn, phải quay về phía sau để bổ sung, ảnh hưởng chung đến tốc độ tiến quân ở hướng này.
Sáng kiến nhỏ nhưng hiệu quả to
Xuất phát từ nỗi lo thiếu đạn, hết đạn "thường trực" trong đầu, các chiến sĩ xe tăng đã tìm nhiều cách để tăng thêm cơ số đạn mang theo.
Đặc biệt, tại Lữ đoàn xe tăng 273, Quân đoàn 3 trước khi bước vào cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975 anh em đã có sáng kiến để tăng cơ số đạn trên mỗi xe thêm được 10 viên - trong đó chủ yếu là đạn xuyên bởi lúc này lực lượng Tăng thiết giáp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn khá nguyên vẹn.
Sáng kiến này xuất phát từ Đại đội 9 của Lữ đoàn xe tăng 273 vào giữa năm 1974. Khi đơn vị nhận nhiệm vụ đánh Đắc Pét - một cứ điểm rất vững chắc của địch. Trong trận này, một số xe tăng được giao nhiệm vụ chiếm trận địa bắn trực tiếp tham gia hỏa lực chuẩn bị trước khi xung phong.
Xe tăng bắn trực tiếp từ trận địa bắn sẽ đạt độ chính xác rất cao. Tuy nhiên, với cơ số đạn theo quy định thì chả mấy sẽ hết. Có ý kiến đưa đạn vào lót sẵn ở trận địa song không được chấp nhận vì sợ lộ ý định chiến đấu.
Sáng kiến nhỏ nhưng hiệu quả to - Xe tăng Việt Nam từ nay không quá lo hết đạn! - Ảnh 3.
Chiếm Dinh Độc lập. Ảnh tư liệu.
Cái khó ló cái khôn! Xuất phát từ thực tế sử dụng, cán bộ chiến sĩ Đại đội xe tăng 9 đã nghĩ ra cách dùng nẹp tre và dây mây buộc thêm một số viên đạn vào các giá đạn có sẵn xung quanh vành tháp pháo và buồng chiến đấu.
Còn để lấy đạn ra cho nhanh, mỗi xe tự làm lấy một con dao nhỏ và mài thật sắc. Khi cần chỉ cần lách mũi dao vào cứa mạnh sẽ làm đứt dây và viên đạn sẽ rời ra. Tốc độ lấy đạn có khi còn nhanh hơn cả khi mở 2 khóa cố định đạn trên giá.
Sau nhiều lần thử nghiệm, anh em trong đơn vị đã cố định thêm được 10 viên đạn mỗi xe, nâng cơ số đạn lên hơn 40 viên mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến kết cấu của xe và thao tác của các thành viên. Quá trình hành quân chiến đấu các quả đạn vẫn đảm bảo yên vị tại vị trí của mình. Trận đó, Đại đội xe tăng 9 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Sau trận Đắc Pét, sáng kiến này nhanh chóng được nhân ra trong phạm vi toàn lữ đoàn và đã góp phần vào các chiến thắng vang dội của đơn vị trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy Mùa Xuân năm 1975.
Nguồn: http://soha.vn/sang-kien-nho-nhung-hieu-qua-to-xe-tang-viet-nam-tu-nay-khong-qua-lo-het-dan-2017042308475797.htm

BÃO THÉP 3- TÂM BÃO- Kỳ 24


Từ sở chỉ huy mặt trận xuống H02 không xa lắm nên khoảng 9 giờ tối ba thày trò ông Đào đã đến nơi. Vì đã được báo trước nên ban chỉ huy H02 đều có mặt đón phó tư lệnh binh chủng. Sau khi nghe ban chỉ huy trung đoàn báo cáo tình hình triển khai công tác chuẩn bị cho đợt Hai của chiến dịch, ông Đào tỏ vẻ hài lòng và kết luận:
- Hôm qua Bộ tư lệnh mặt trận đã tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm đợt Một và triển khai nhiệm vụ đợt Hai cho toàn mặt trận. Nói chung, nhiệm vụ đợt Hai của các đơn vị xe tăng chúng ta về cơ bản không có gì thay đổi. Tuy nhiên, về mặt chiến thuật sẽ phải có những đổi mới để đảm bảo đánh thắng. Xin thông báo với các đồng chí là H03 đã thực nghiệm đào công sự bằng thuốc nổ thành công. Trong đợt Hai tới đây sẽ áp dụng vào thực tế ở cánh bắc và cánh tây. Ta sẽ đưa xe tăng xuống công sự làm trận địa bắn ngắm trực tiếp để tiêu diệt xe tăng địch, phá vỡ lớp vỏ cứng vòng ngoài của chúng. Còn ở cánh đông nhiệm vụ của các đồng chí vẫn là tham gia thọc sâu giải phóng vùng duyên hải để cô lập hệ thống phòng thủ của địch, không cho địch tăng viện bằng đường biển hoặc rút chạy ra biển. Tuy nhiên, thời cơ tung các đồng chí vào lúc nào cho có lợi nhất thì còn phải chờ diễn biến của tình hình. Việc các đồng chí tổ chức rút kinh nghiệm đợt Một, tập huấn về các hình thức chiến thuật tiến công trong hành tiến rồi tao ngộ chiến cho bộ đội và chủ động tổ chức trinh sát địa hình như vậy là rất tốt. Vấn đề đặt ra bây giờ với các đồng chí là duy trì tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao, bất cứ lúc nào trên lệnh xuống là xuất kích được ngay. Tôi cho rằng đây là cơ hội duy nhất, cơ hội cuối cùng để chúng ta thể hiện sức mạnh và củng cố vị thế của mình. Vì vậy rất mong các đồng chí cố gắng động viên bộ đội cho tốt. Còn những đề nghị của các đồng chí chúng tôi xin ghi nhận và sẽ giải quyết ngay. Các đồng chí có ý kiến gì nữa không?
Trung đoàn trưởng Lãm đứng dạy, nghiêm trang:
- Chúng tôi xin hứa trước thủ trưởng và các thủ trưởng cấp trên sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao trong đợt Hai này ạ.
Liếc nhanh vào cái đồng hồ trên cổ tay trái, phó tư lệnh Đào hạ giọng:
- Đề nghị các anh cho biết, tình hình cái đại đội xe tăng bơi của tiểu đoàn 244 thế nào?
Vẻ ngạc nhiên hiện rõ trên mặt mấy cán bộ trung đoàn, chính ủy Võ lên tiếng:
- Thủ trưởng định hỏi về vấn đề gì ạ? Về người hay về trang bị?
Ông Đào bình thản:
- Về tất cả! Các anh cứ cho tôi biết cả về đội ngũ cán bộ, cả về chất lượng thành viên và chất lượng trang bị.
Trung đoàn trưởng Lãm mở sổ tay lần tìm một lát rồi đứng dạy:
- Báo cáo thủ trưởng! Đó là đại đội 3, đại đôi xe tăng của tiểu đoàn 244. Đại đội trưởng là đồng chí Lê Minh Đôn. Chính trị viên là đồng chí Nguyễn Thế Cường. Chính trị viên phó là Phạm Ngọc Châu. Đại đội phó kỹ thuật là Nguyễn Bình Yên. Hai trung đội trưởng là Nguyễn Văn Thanh và Trần Quốc Quảng. Nhìn chung đây là một kíp cán bộ mạnh của trung đoàn, được đào tạo cơ bản và nhất là rất có kinh nghiệm trong quản lý, chỉ huy bộ đội. Về chất lượng thành viên cũng tương đối tốt, đã được huấn luyện kỹ. Vì vậy, thời kỳ còn ở ngoài kia đại đội này thường xuyên ở tốp dẫn đầu phong trào thi đua của trung đoàn. Riêng về chất lượng trang bị thì chỉ ở mức khá vì số xe của đại đội này đã sử dụng khá nhiều. Báo cáo hết ạ!
Ông Đào vẫn thủng thẳng:
- Có phải cái cậu Đôn lùn lùn, mắt ty hý, có cái răng vàng và khét tiếng về quản lính đấy không?
Chính ủy Võ tủm tỉm cười:
- Thủ trưởng nhớ giỏi thật! Đúng là Đôn ấy đấy ạ!
Lặng đi một lát như toan tính điều gì đó, bất chợt phó tư lệnh Đào cao giọng:
- Thế thì các đồng chí chú ý nghe nhé! Theo yêu cầu của trên ta đã đưa hai đại đội xe tăng vào tăng cường cho mặt trận B4. Tuy nhiên, trên đường hành quân đại đội xe tăng bơi đã bị không quân địch oanh tạc mất sức chiến đấu. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của chiến trường tôi quyết định điều đại đội 3 của tiểu đoàn 244 đi thay thế. Do thời gian rất gấp nên đề nghị các đồng chí triển khai thực hiện ngay, đảm bảo từ hai đến ba ngày nữa anh em lên đường được. Về điểm đến, đường hành quân và những vấn đề khác đồng chí Bắc sẽ làm việc cụ thể với trung đoàn và đồng chí đại đội trưởng. Các anh nghe rõ cả chưa?
Cả ban chỉ huy trung đoàn lặng đi. Mãi sau trung đoàn trưởng Lãm mới khẽ khàng:
- Báo cáo, nghe rõ rồi nhưng… thế thì gay cho chúng tôi quá!
Ông Đào tỉnh khô:
- Gay thế nào?
Lãm khẩn khoản:
- Báo cáo thủ trưởng, mỗi tiểu đoàn của chúng tôi chỉ có một đại đội xe tăng bơi làm nòng cốt. “Thằng” 66 vừa rồi đã bị sứt mẻ, chúng tôi đang định điều 2 xe của “thằng” này sang bổ sung cho nó. Thế mà bây giờ thủ trưởng rút đi thì chúng tôi “rỗng ruột” mất.
Ông Đào lạnh lùng:
- Không bàn cãi gì nữa. Trước hết các anh cứ triển khai thực hiện quyết định của tôi đi đã. Còn việc bổ sung lực lượng cho các anh ta sẽ làm sau một chút cũng được. Muốn gì thì chậm nhất ngày kia đại đội 3 phải lên đường, vào đến nơi càng nhanh càng tốt. Rõ chưa?
Chẳng biết làm gì hơn, trung đoàn trưởng Lãm đành buông xuôi:
- Rõ rồi ạ!
          
           ***

Mới cuối tháng Tư mà tiết trởi ở Quảng Trị đã khá oi bức. Nắng không to nhưng cứ ong ong, bứt dứt. Lại thêm tiếng ùng oàng của bom đạn tứ bề, tiếng vè vè dai dẳng của thằng L19, mùi khói các đám cháy khét lẹt… làm không khí thêm khó chịu. Tuy nhiên, trái hẳn với cái ngoại cảnh đó là một không khí hết sức vui tươi, phấn khởi trong đại đội của Nhã. Từ khi biết đơn vị mình lại được tham gia tiến công cứ điểm Phượng Hoàng lần nữa, cán bộ, chiến sĩ trong đại đội sôi nổi hẳn lên. Hôm qua đại đội lại được bổ sung về ba chiếc T54 nữa nên vẫn đảm bảo lực lượng cho hai trung đội, mỗi trung đội ba xe. Chẳng cần phải động viên nhiều, toàn đại đội lao vào chuẩn bị xe pháo cho trận đánh mới. Pháo hai Kỳ vừa tỷ mẩn lau từng viên đạn sáng bóng vừa hý hửng:
- Chuyến này có cơ hội rửa được hận rồi, các quê  nhỉ!
Liên “triết gia” vẫn hoài nghi:
- Chẳng biết có rửa được hận không hay lại nợ nần chồng chất thêm?
Pháo thủ Thủy thì phân tích có vẻ rất có cơ sở:
- Không! Tớ tin rằng với khoảng cách 1000 trở lại, mà xe ta đỗ tại chỗ bắn thì bố thằng nào chịu được pháo 100 của mình. M48 chứ M100 hay 1000 cũng toi hết- Cậu ta bình luận- Phải công nhận ông nào nghĩ ra cái bài đưa xe tăng xuống công sự bắn trực tiếp ở khoảng cách gần thế này “độc” thật đấy!
Liên lại gật gù triết lý:
- Thì “vỏ quýt dày sẽ có móng tay nhọn” mà.
Như thường lệ Nhã vẫn ngồi im lắng nghe các thành viên xe mình bàn tán mà không tham gia vào câu chuyện. Trong đầu anh còn đang suy nghĩ tìm phương án tối ưu cho trận đánh này. Nói gì thì nói đây cũng là cơ hội để đơn vị anh và bản thân anh gỡ gạc lại một chút thể diện sau trận thua mất mặt hôm nào. Chắc chắn mọi việc không đơn giản như Thủy nói. Đã đành đưa được xe tăng xuống công sự bắn trực tiếp ở khoảng cách gần sẽ là một lợi thế rất to lớn nhưng cũng chưa biết rồi sẽ còn những gì sẽ xảy ra. Theo cấp trên cho biết lực lượng địch phòng ngự ở Phượng Hoàng hiện tại đã mạnh hơn rất nhiều so với trận đánh hôm mồng Chín, gồm một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, lại được tăng cường một chi đoàn xe tăng, hệ thống công sự vật cản của chúng cũng đã được củng cố thêm một bước. Chắc chắn chúng sẽ bố trí phòng ngự mạnh ở những hướng mà ta đã đánh vào lần trước. Rõ ràng việc chọn hướng tiến công lần này phải đổi khác đi mới có thể giành được thắng lợi, còn nếu cứ xổng lưng mà xông vào như trận trước thì chẳng khác gì húc đầu vào đá. Ngày mai trung đoàn bộ binh mới tổ chức đi trinh sát và giao nhiệm vụ tại thực địa nhưng từ hôm qua đến nay Nhã đã nghiên cứu rất kỹ địa hình khu vực tác chiến trên bản đồ. Thực tình trong lòng Nhã vẫn thấy có một cái gì đó bồn chồn không thật yên tâm. Có lẽ do những hậu quả nặng nề của trận đánh hôm trước để lại. “Đúng là kinh cung chi điểu”- Nhã tự cười mình rồi rảo bước đi tìm chính trị viên Dư và hai trung đội trưởng để hội ý trước cho chuyến trinh sát.

***

Điểm trinh sát chung của trung đoàn bộ binh mà đại đội Nhã đến phối thuộc được đặt ở sườn bắc núi Ba Gơ. Đứng ở đây cứ điểm Phượng Hoàng hiện ra rõ mồn một trong nắng buổi trưa. So với hôm mồng Chín hệ thống công sự trên hai điểm cao đều tăng lên về số lượng và có vẻ như chắc chắn hơn. Những đồng bao cát to lù lù bao bọc xung quanh vị trí chỉ huy, trận địa cối và công sự bắn như muốn thách thức đối phương. Hàng rào bao quanh cứ điểm cũng đã được tăng cường thêm hai lớp dây thép gai bùng nhùng. Xác ba chiếc T54 cháy vẫn nằm nguyên chỗ cái khe cạn giữa hai điểm cao 52 và 44. Ngay chỗ đó và xung quanh cứ điểm là bạt ngàn những hố bom, dấu tích của những trận oanh kích vừa mới xảy ra vài hôm trước. Không biết bọn chúng cất giấu ở đâu mà dẫu đã mỏi mắt tìm Nhã vẫn tịnh không phát hiện ra bóng dáng chiếc xe tăng nào. Trong bụng anh thấy hơi lo lo vì với phương pháp bắn trực tiếp của xe tăng thì việc phát hiện được mục tiêu là cực kỳ quan trọng, “có lẽ phải có mồi nhử bọn chúng mới xuất hiện chăng?”- Nhã nghĩ bụng. Một nỗi lo lắng khác đang choán hết tâm trí Nhã là vấn đề đường cơ động. Trong trận đánh hôm trước đường sá gần như còn nguyên mà xe anh đã bị sa lầy. Còn hôm nay nhìn những con đường và sườn đồi xung quanh mà phát khiếp, hàng nghìn hố bom nằm san sát nhau, nhiều hố đầy nước trông chẳng khác gì cái ao. Không may mà sa xuống đó cứ là cứu kéo hết đêm.
Đang mải mê dõi mắt vào con đường dẫn vào chân cứ điểm nham nhở hố bom Nhã bỗng giật mình vì chính trị viên Dư vỗ nhẹ vào vai:
- Trung đoàn trưởng gọi về hội ý ngay!
Nhã vẫn nấn ná:
- Anh thấy không? Đường sá như thế kia thì làm sao mà cơ động được?
Dư gật đầu đồng tình:
- Đúng vậy! Có lẽ phải đề nghị thay đổi hướng tiến công mới được.
Nhã túm lấy Dư:
- Anh thấy ý định của tôi hôm qua có được không?
Dư nhăn trán:
- Thì mình cứ đề xuất xem ý của các anh ấy thế nào?
Hai anh em quay lại vị trí của trung đoàn trưởng. So với Nhã trung đoàn trưởng bộ binh có vẻ như còn trẻ hơn. Kể cũng phải thôi, đánh nhau liên tục, hy sinh nhiều nên tiến bộ cũng nhanh hơn. Tuy nhiên cái trán chưa hằn một nếp nhăn của trung đoàn trưởng lúc này đang nhíu lại, anh chỉ xuống con đường từ phía tây đâm thẳng vào chân điểm cao 52:
- Mấy ông xe tăng xem hướng chủ yếu ở hướng này có được không? Có con đường này chắc các ông cơ động được thuận lợi hơn.
Nhã đoán chắc trong quyết tâm sơ bộ của trung đoàn trưởng đã định như vậy. Có lẽ cũng chính vì thế nên anh ta đã chọn vị trí trinh sát chung ở đây. Vốn là người không thích tranh cãi, bảo sao làm vậy nhưng lần này Nhã quyết định phải có ý kiến, anh lắc đầu:
- Báo cáo anh! Đề nghị các anh xem lại chứ theo tôi nếu chọn hướng này làm hướng chủ yếu sẽ có nhiều bất lợi đấy anh ạ!
Trung đoàn trưởng và các cán bộ bộ binh đều tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Bất lợi thế nào? Hôm trước ta đánh theo hướng này thuận lợi thế cơ mà.
Nhã hiểu đối với cánh bộ binh thì việc chọn hướng này họ sẽ có nhiều thuận lợi, từ vị trí tập kết ở dãy núi Ba Gơ này họ chỉ cần rất ít thời gian là có thể chiếm lĩnh được trận địa xuất phát tiến công. Nhưng Nhã đã quyết định phải bảo vệ ý kiến của mình đến cùng:
- Vâng! Hôm trước thì thuận lợi đấy nhưng sắp tới tôi tin là sẽ là bất lợi- Chỉ tay xuống con đường Nhã cao giọng- Các anh nhìn kỹ xem, con đường dưới kia có còn được gọi là đường nữa không? Nát như tương Bần thế kia thì xe tăng làm sao mà cơ động được. Lại còn mìn nữa chứ. Tôi tin rằng đoạn sát chân cao điểm thế nào cũng dày đặc mìn. Còn xe tăng địch, chắc chắn chúng sẽ bố trí chủ yếu ở hướng ấy. Lao vào đấy thì chẳng khác nào húc đầu vào đá.
Trung đoàn trưởng gật đầu:
- Tôi cũng nghĩ vậy! Chắc chắn đây là hướng phòng ngự chủ yếu của địch. Tuy nhiên không phải lúc nào ta cũng tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu được. Nhưng anh cứ nói đi, theo anh thì nên chọn hướng nào?
Được lời như cởi tấm lòng Nhã tuôn luôn cái ý định mà anh đã trao đổi với Dư và mấy cán bộ trung đội từ hôm qua:
- Báo cáo các anh! Theo tôi ta nên chuyển hướng tiến công sang hướng Bắc…
Mấy cán bộ tiểu đoàn bộ binh nhao nhao phản đối:
- Sao lại sang tận hướng Bắc được? Quân tướng đang ở hết phía nam này. Bây giờ chuyển hướng lên đấy lại phải cơ động ngược ra. Làm thế để mà chết lính hả?
Thoáng chút bối rối nhưng Nhã vẫn cứng cỏi:
- Tôi nghĩ rằng để đảm bảo chắc thắng thì mất thêm một vài ngày cơ động lực lượng ta cũng nên làm.
Một tiểu đoàn trưởng bộ binh vẫn gân cổ lên:
- Các ông xe tăng, đi đến đâu cũng có xe nó chở. Còn chúng tôi ấy à? Trăm thứ lên đôi vai này này. Mà ông đã hành quân bộ bao giờ chưa đấy?
Thấy có vẻ hơi căng căng trung đoàn trưởng dàn hòa:
- Trật tự nào! Để anh ấy nói hết đã rồi hãy tranh luận.
Nhã vẫn điềm đạm:
- Như các anh đã biết, vừa qua bọn địch đã có những thay đổi rất quan trọng về chiến thuật. Đó là đưa xe tăng ra tuyến phòng thủ vòng ngoài tạo thành một lớp vỏ cứng. Chiến thuật đó đã gây rất nhiều khó khăn cho ta trong trận tiến công hôm mồng Chín vừa qua. Tuy nhiên, việc bố trí xe tăng của chúng cũng rất linh hoạt. Các anh thấy đấy, theo trên cho biết ở cứ điểm này có một chi đoàn xe tăng thế mà tôi quan sát từ nãy đến giờ vẫn không phát hiện được chúng bố trí ở đâu. Chắc bây giờ chúng đang giấu đâu đó dưới hầm, khi phán đoán được hướng tiến công của ta mới cơ động ra. Vì vậy, để đối phó với chúng cách sử dụng xe tăng của chúng tôi cũng có những thay đổi- Nhìn quanh một lượt như để thu hút sự chú ý của mọi người rồi Nhã mới tiếp tục một cách dứt khoát- Chúng tôi cũng sẽ cho xe tăng xuống công sự ở khoảng cách gần để diệt xe tăng địch, chi viện cho xe tăng và bộ binh xung phong.
Mấy cán bộ bộ binh cùng ngớ ra tỏ vẻ ngạc nhiên, riêng trung đoàn trưởng thì gật đầu:
- Tôi cũng nghe sư đoàn phổ biến như vậy nhưng chưa biết sự thể thế nào. Anh nói cụ thể xem sao! Tại sao lại phải đưa xe tăng xuống công sự? Như thế thì có còn gọi là xe tăng nữa hay không?
Đến lúc này các cán bộ bộ binh đã xúm lại thành một vòng xung quanh Nhã, anh hồ hởi giải thích:
- Báo cáo các anh! Về sức mạnh hỏa lực thì T54 của ta với M48 của địch gần tương đương như nhau, T54 nhỉnh hơn chút ít vì cỡ pháo lớn hơn. Sở dĩ trận mồng Chín vừa qua xe tăng ta bị tổn thất nặng là vì M48 nằm ở trong công sự chỉ nhô mỗi tháp pháo lên, trong khi đó xe tăng mình lại lộ toàn thân nên mới đến khoảng cách 2000 mét đã bị nó bắn trúng. Muốn bắn lại nó thì lại quá xa, mục tiêu thì nhỏ nên cũng không được. Chính vì vậy chúng tôi dự kiến sẽ sử dụng một trung đội tăng cường cho hướng chủ yếu, còn một trung đội sẽ cho xe xuống công sự ở khoảng cách gần để tiêu diệt được tăng địch trong công sự, chi viện cho hướng chủ yếu xung phong mà vẫn bảo vệ được mình.
Mấy cái đầu cùng gật gật ra vẻ đã hiểu vấn đề, chợt một cán bộ tiểu đoàn vặn lại:
- Nhưng làm sao các ông đưa được xe vào gần thế? Tôi sợ rằng chưa vào được công sự thì các ông đã bị nó “xơi tái” mất rồi.
Nhã làm bộ bí mật:
- Việc đó chúng tôi đã có giải pháp rồi! Các anh cứ yên tâm! Trước giờ nổ súng một trung đội của chúng tôi sẽ có mặt trong công sự.
Trung đoàn trưởng gật đầu hối thúc:
- Xem ra biện pháp này được đấy! Bây giờ anh anh nói cụ thể phương án sử dụng thế nào! Và tại sao lại phải chuyển hướng tiến công về phía Bắc?
Nhã đứng lên một mô đất và chỉ về phía ngọn đồi đối diện phía bên kia điểm cao 52:
- Với cách sử dụng xe tăng như vậy thì việc chọn trận địa bắn sẽ có ý nghĩa rất quan trọng. Trong điều kiện cụ thể này tôi nhận thấy nếu đặt trận địa bắn ngắm trực tiếp ở điểm cao 32 kia là có lợi nhất. Trận địa đặt ở đấy có thể khống chế, tiêu diệt được địch ở cả hai điểm cao 52 và 44. Khi pháo binh tiến hành hỏa lực chuẩn bị chúng tôi sẽ tham gia tiêu diệt các hỏa điểm đầu cầu, đặc biệt là xe tăng trong công sự để chi viện cho thê đội Một xung phong. Sau đó thì tùy tình hình mà quyết định. Nếu đánh 52 thuận lợi thì trung đội này có thể tiếp tục chi viện cho hướng chủ yếu đánh sang 44. Nếu gặp khó khăn trung đội này sẽ trực tiếp xung phong đánh chiếm 44. Lúc đó sẽ chuyển trung đội xe tăng ở hướng chủ yếu sang làm nhiệm vụ bắn trực tiếp để chi viện. Ngoài ra, ở vị trí này sẽ rất thuận lợi khi đánh địch rút chạy và phát triển tiến công về Ái Tử.
Trung đoàn trưởng chăm chú quan sát địa hình một lúc rồi mở bản đồ ra nghiên cứu. Một lát sau anh ngẩng lên dứt khoát:
- Anh Nhã nói có lý! Tôi quyết định sẽ chuyển hướng tiến công về hướng Bắc- Mỉm cười với mấy cán bộ cấp dưới anh vỗ về- Không sao! Ta chịu khó một tý! Mà lính bộ binh thì chuyển quân thế này là thường phải không các anh? Bây giờ ta sẽ cơ động sang bên đó trinh sát cho thật cụ thể.
Cho đến chiều tối thì việc xác định vị trí chỉ huy, vị trí trận địa bắn, trận địa xuất phát tiến công và đặt các hỏa khí đi cùng của bộ binh, tuyến triển khai của xe tăng… đã hoàn tất. Trung đoàn trưởng hào hứng giao nhiệm vụ và tổ chức hiệp đồng giữa các đơn vị ngay tại thực địa. Cuối cùng anh kết luận:
- Nhiệm vụ các đơn vị, các bộ phận đều đã rõ cả rồi. Các tiểu đoàn bộ binh khẩn trương tổ chức cơ động về vị trí mới trước ngày N. Riêng bên xe tăng các anh làm thế nào thì làm, trước giờ G phải có mặt trong công sự bắn. Thắng hay bại của trận này phụ thuộc vào mấy cái xe trong công sự đấy.
Nhã bắt tay trung đoàn trưởng nói chắc như đinh đóng cột:
- Anh cứ yên tâm! Bằng mọi giá chúng tôi sẽ có mặt đúng giờ quy định.