Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2017

BÃO THÉP 2- ÁP THẤP ĐƯỜNG SỐ CHÍN- Kỳ 9


Chương 7

          Chẳng mấy mà đã sắp đến ngày kỷ niệm mười năm thành lập Binh chủng. Mười năm, quãng thời gian không dài cũng không ngắn nhưng cũng đủ để người ta nhìn lại những bước trưởng thành, đánh giá lại những thành quả đã đạt được, kiểm điểm lại những thiếu sót và đề ra những mục tiêu, những giải pháp cho giai đoạn tiếp theo. Vì vậy bước sang năm 1969 Thường vụ đảng ủy binh chủng Thiết giáp đã quyết định tổ chức hội nghị “tổng kết mười năm xây dựng binh chủng và rút kinh nghiệm những trận đánh đầu tiên”.
          Buổi chiều trước ngày tổ chức hội nghị cái xóm nhỏ ven chân dãy Tam Đảo tưng bừng như nhà sắp có đám cưới. Chủ nhiệm chính trị Thu và tham mưu phó Ba được phân công tiến hành công tác chuẩn bị và đón tiếp đại biểu về dự hội nghị. Hai ông tất bật chạy ngược, chạy xuôi lo trang trí hội trường, lo bảo đảm hậu cần rồi cho người liên hệ với địa phương bố trí nhà ở cho đại biểu.
          Trong ngôi nhà của quyền tư lệnh Đào ông và chính ủy Ngọc đang cùng nhau trao đổi lần cuối về bản báo cáo tổng kết sẽ đọc trước hội nghị ngày mai. Vẻ tư lự quyền tư lệnh Đào chậm rãi:
          - Theo tôi về cơ bản bản báo cáo này là đầy đủ và khái quát, đã nêu bật được những thành quả chúng ta đạt được trong mười năm qua, đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm và đã lồng ghép được những bài học kinh nghiệm của các trận đánh Tà Mây- Làng Vây vào đó. Đồng thời cũng đã nêu được phương hướng xây dựng binh chủng trong thời gian tới. Tuy nhiên, tôi vẫn bảo lưu ý kiến hôm họp thường vụ, phần nói về những thiếu sót, khuyết điểm vẫn còn chung chung. Những bài học kinh nghiệm cũng vậy, có cái gì đó vẫn còn né tránh nhất là những vấn đề liên quan đến cấp trên. So với bản hôm trước các anh ấy đã có sửa chữa đôi chút nhưng theo tôi vẫn chưa đạt.
          Chính ủy Ngọc mỉm cười rồi mềm mỏng:
          - Anh Đào ạ! Sau khi anh có ý kiến trong cuộc họp thường vụ anh Dương cũng đã đến xin ý kiến tôi rồi mới sửa. Anh thông cảm, hội nghị lần này không chỉ có chúng ta mà còn có đại biểu các cơ quan Bộ, nói căng quá e không có lợi. Còn về phía ta dù sao đây cũng là dịp mười năm mới có một lần, lại vừa mới chiến thắng vang dội nên nếu nói quá nhiều về khuyết điểm sẽ làm mất khí thế đi. Vì vậy tôi đã đồng ý với các anh ấy hãy chỉ sửa như thế thôi.
          Quyền tư lệnh Đào vẫn giữ bộ mặt khó đăm đăm:
          - Nếu cứ như thế này thì khó lòng mà tiến bộ được anh Ngọc ạ.
          Chính ủy Ngọc vẫn mềm mỏng:
          - Thế này anh ạ! Ngày mai trước hội nghị ta cứ tạm thời đánh giá, kiểm điểm ở mức độ này thôi. Còn sau đó ta sẽ chỉ đạo trực tiếp cho lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị về tiến hành liên hệ sâu sắc hơn tại đơn vị mình. Làm như vậy được cả đôi đường anh ạ: ở cấp binh chủng thì khái quát, tổng hợp; còn ở các đơn vị thì cụ thể, sát thực tế. Anh thấy thế có được không?
          Quyền tư lệnh Đào lắc đầu:
          - Các anh đã bàn nhau thế thì tôi cũng phải chấp hành thôi.
          Phía hội trường lớn không khí đang rất nhộn nhịp, các đoàn đại biểu của H02, H03 đã về. Từ Vĩnh Linh chính trị viên M77 Bùi Văn cũng đã có mặt. Từ 198 chính trị viên Tuấn cũng vừa ra đến nơi. Mọi người tay bắt mặt mừng. Bùi Văn vỗ vai Tuấn:
          - Tớ cứ tưởng vào nằm sát vĩ tuyến 17 rồi thì thế nào cũng được đánh trận đầu tiên, không ngờ các cậu lại “nẫng” mất.
          Tuấn cười hiền lành:
          - Thật tình tớ cũng nghĩ thế, nhưng có lẽ đến lúc ấy sao chiếu mệnh của tớ bất ngờ sáng lên nên được các thủ trưởng nhìn thấy.
          Trung đoàn trưởng và chính ủy H02 tiến lại gần Tuấn bắt tay:
          - Xin chúc mừng các cậu! Thế là H02 lúc nào cũng là đầu tiên, chỉ có chiến đấu là không được đầu tiên thôi.
          Tuấn chẳng biết làm sao chỉ lúng búng:
          - Xin cảm ơn các thủ trưởng.
          Đúng lúc ấy một người đầu đội mũ tai bèo, vai đeo cái ba lô lép kẹp đang xăm xăm bước trên con đường đất dẫn vào khu sơ tán của cơ quan. Mọi người cùng dõi mắt nhìn ra. Chủ nhiệm chính trị Thu đưa tay lên che mắt chăm chú nhìn rồi hỏi to:
          - Có phải Bùi Tâm kia không nhỉ?- Rồi ông tự trả lời- Đúng rồi! Đúng Bùi Tâm rồi, anh em ơi.
          Dứt lời ông rảo bước tiến về phía cổng. Người đang đi vào đúng là Bùi Tâm, một cán bộ của binh chủng đã được cử vào chiến trường B2 từ năm 1965. Chủ nhiệm chính trị Thu dang rộng vòng tay ôm choàng lấy người đồng chí:
          - Làm sao mà cũng ra đây được!
          Bùi Tâm ôm chặt người thủ trưởng cũ, anh vừa cười vừa nói nhỏ bằng cái giọng đã pha tiếng miền Nam:
          - Bố mẹ gọi “dề” thì con cái phải “dề” ngay chứ!
          Hai người tay trong tay tiến về phía đám đông đã ùa ra tận cổng, Tâm đưa tay bắt tay từng người một, tất cả đều là người nhà mà. Nhìn người đồng đội da xanh tái, môi thâm xịt vì sốt rét rừng mắt ai cũng thấy rưng rưng. Thế mà đã 5 năm họ xa nhau. Ngày ấy Bùi Tâm được cử làm chính trị viên đoàn cán bộ xe tăng đi vào chiến trường B2 thực hiện phương châm “lấy xe địch đánh địch”. Từ đó đến nay chỉ thỉnh thoảng mới có một bản báo cáo ngắn gọn báo cáo tình hình gửi về binh chủng, còn người thì vẫn “bặt vô âm tín”. Tham mưu phó Ba nhỏ nhẹ trách:
          - Thế mà cậu chẳng báo cho bọn tớ đưa xe ra đón cho đỡ vất vả.
          Bùi Tâm cười rổn rảng đặc kiểu Nam Bộ:
          - Thủ trưởng ơi! Tôi còn đeo ba lô đi bộ vã từ đây đến tận B2 thì mấy cây số từ Vĩnh Yên “dô” đây có nhằm nhò gì!- Nhưng rồi anh lại cười- Quả thật tàu xe dạo này đi lại khó khăn quá.
          Cuộc hàn huyên còn kéo dài cho đến sẩm tối, tham mưu phó Ba phải giục mãi mọi người mới chịu đi ăn cơm.

            ***

          Hội nghị “Tổng kết mười năm xây dựng binh chủng và rút kinh nghiệm những trận đánh đầu tiên” của binh chủng Thiết giáp đã bước sang ngày thứ hai. Hôm qua, sau báo cáo trung tâm do quyền tư lệnh Đào đọc trước hội nghị, đại biểu Bộ Tổng Tham mưu đã phát biểu ý kiến. Tiếp theo là gần chục bản tham luận của đại biểu các cơ quan, đơn vị, đoàn huấn luyện. Hai bản báo cáo của Bùi Tâm từ B2 ra và của chính trị viên tiểu đoàn 198 Nguyễn Ngọc Tuấn đã gây được sự chú ý đặc biệt. Cũng phải thôi, bởi đó là của những người đã rời binh chủng vào chiến trường từ cách đây năm, sáu năm với nhiệm vụ nghiên cứu địa bàn chuẩn bị cho tăng thiết giáp vào trận. Còn lại là của những người vừa tham gia những trận đánh đầu tiên của binh chủng sau hàng chục năm chờ đợi và đã chiến thắng giòn giã. Nhất là bản tham luận của Tuấn, anh đã phải dừng lại nhiều lần vì những tràng pháo tay lúc lúc lại nổi lên khi anh nhắc đến những sáng kiến của bộ đội để vượt qua khó khăn trong quá trình hành quân cũng như chiến đấu, nhắc đến những sáng tạo của đội ngũ cán bộ khi quyết định chọn hướng tiến công đã tạo nên thế trận bất ngờ làm địch trở tay không kịp. Nhưng cũng có lúc cả hội nghị trầm lắng đi khi Tuấn nhắc đến những tấm gương hy sinh anh dũng của chính trị viên Tú, của trung đội trưởng Tả cùng những gian nan không kể xiết mà những người lính đang phải chịu đựng ở chiến trường.
          Nhận thấy hội nghị đã đạt được mục đích đề ra quyền tư lệnh Đào trao đổi nhỏ mấy câu với chính ủy Ngọc rồi bước lên diễn đàn, ông trịnh trọng:
          - Kính thưa các đồng chí đại biểu! Thưa toàn thể các đồng chí! Sau hơn một ngày làm việc hội nghị chúng ta đã nghe ý kiến phát biểu của đại biểu Bộ Tổng tham mưu và gần một chục bản tham luận của các cơ quan, đơn vị. Thay mặt thủ trưởng Bộ tư lệnh tôi xin kết luận như sau. Trước hết tất cả các ý kiến của chúng ta đều thống nhất cao với báo cáo trung tâm, đồng thời làm rõ thêm một số vấn đề. Chúng ta đã thống nhất với nhau rằng những thành quả đã đạt được của binh chủng ta trong mười năm qua là vô cùng to lớn và vững chắc. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Quân ủy trung ương và Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu chúng ta đã xây dựng binh chủng Thiết giáp Việt Nam đi từ không đến có, từ thô sơ đến hiện đại, đã quản lý khai thác có hiệu quả một khối lượng cực kỳ lớn các trang thiết bị và đặc biệt là đã ra quân đánh thắng trận đầu tại Tà Mây- Làng Vây. Chiến thắng này một lần nữa khẳng định hoàn toàn có thể sử dụng một cách hiệu quả tăng thiết giáp ở chiến trường miền Nam. Nó cũng khẳng định phương hướng xây dựng binh chủng của chúng ta là hoàn toàn chính xác. Ngoài ra qua báo cáo của đại biểu thiết giáp B2 chúng ta cũng thấy được khả năng và nhu cầu sử dụng tăng thiết giáp ở chiến trường này là rất lớn. Vì vậy trong thời gian tới chúng ta cần tích cực xây dựng, phát triển lực lượng để sẵn sàng lên đường khi có lệnh. Nhân dịp này chúng tôi cũng xin đề nghị thủ trưởng Bộ cho phép chúng tôi tiếp tục đưa xe tăng vào miền Nam để tham gia chiến đấu. Ngay sau hội nghị này chúng tôi sẽ có kế hoạch chi tiết để báo cáo Bộ, xin các đồng chí lưu ý giải quyết cho- Sau khi điểm lại những biện pháp cần thiết phải tiến hành ngay để nâng cao sức mạnh chiến đấu cho toàn binh chủng ông kết luận- Thưa các đồng chí! Trên đây là những giải pháp mang tính định hướng, sau đây chúng tôi sẽ chỉ đạo các cơ quan bộ tư lệnh triển khai một cách cụ thể. Cuối cùng xin kính chúc các đồng chí đại biểu mạnh khỏe, tiếp tục chỉ đạo, giúp đỡ chúng tôi nhiều hơn nữa. Kính chúc tất cả các đồng chí mạnh khỏe, lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
          Một tràng vỗ tay nổi lên rào rào, quyền tư lệnh Đào hơi cúi đầu chào rồi đi xuống chỗ ngồi.
          Đợi cho tiếng vỗ tay ngớt đi một chút chính ủy Ngọc đứng dạy bước nhanh về phía diễn đàn. Ông đưa tay vẫy cho tiếng ồn lặng hẳn rồi cười thật tươi:
          - Có một vấn đề chúng tôi muốn xin ý kiến các đồng chí! Như các đồng chí đã biết, trong quân đội chúng ta quân binh chủng nào cũng có truyền thống của mình. Như binh chủng pháo binh có truyền thống “chân đồng vai sắt, đánh giỏi bắn trúng”. Binh chủng thông tin thì có truyền thống “kịp thời, bí mật, chính xác, an toàn”. Vậy thì truyền thống của binh chủng thiết giáp chúng ta là gì nào?- Trong hội trường bỗng rộ lên tiếng xì xào từ tất cả các hàng ghế, người này quay sang hỏi người kia. Đợi cho tiếng ồn lắng xuống chính ủy Ngọc mới từ tốn- Vừa qua trong thường vụ đảng ủy chúng tôi cũng đã có sự trao đổi với nhau và đã sơ bộ thống nhất thế này: ngay sau khi chúng ta đánh thắng giòn giã ở Làng Vây, ngày 7 tháng Hai năm 1968 Bộ Tổng Tư lệnh đã có điện khen ngợi. Tôi xin trích đọc một đoạn- Ông nâng cuốn sổ tay lên trang trọng- “Bộ Tổng Tư lệnh nhiệt liệt biểu dương các đồng chí đã đánh thắng trận đầu oanh liệt, góp phần xây dựng truyền thống vẻ vang của bộ đội thiết giáp nói riêng và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nói chung: Hễ ra quân là đánh thắng, đã nổ súng là tiêu diệt địch giòn giã”. Vậy chúng tôi đề nghị lấy một câu trong bức điện khen của Bộ Tổng Tư lệnh làm truyền thống của binh chủng nhưng có sửa đi một chữ. Đó là- Ông dằn từng tiếng- “Đã ra quân là đánh thắng”. Các đồng chí thấy thế có được không?
          Hội trường bỗng lặng ngắt như tờ đến nỗi nghe thấy cả tiếng những cành lá cọ đang reo lên ràn rạt trên đỉnh đồi. Rồi bất thần một tràng pháo tay nổi lên đột ngột kéo dài mãi không dứt. Chính ủy Ngọc đứng yên trên diễn đàn, miệng cười thật cởi mở. Đợi cho tiếng vỗ tay ngớt đi ông hỏi lớn:
          - Thế là đồng ý rồi phải không? Vậy thì tốt! Hội nghị chúng ta kết thúc ở đây. Xin cảm ơn các đồng chí đại biểu cấp trên đã đến dự và tham gia rất nhiều ý kiến quý báu đối với binh chủng, chúng tôi xin tiếp thu và xin hứa với các đồng chí sẽ phấn đấu xây dựng binh chủng thiết giáp ngày càng vững mạnh, xứng đáng với lòng tin của Đảng, của nhân dân và của cấp trên. Sau đây xin kính mời các đồng chí đại biểu và toàn thể các đồng chí xuống nhà ăn, chúng ta sẽ ăn tươi một chút để chào mừng thành công của hội nghị.
          Xuống nhà ăn quyền tư lệnh Đào và vội hai lưng cơm rồi nói thác ra mình đang đau bụng để xin phép về. Đã lâu lắm rồi mới có một cuộc hội ngộ đông đảo đến thế của các cán bộ trong toàn binh chủng, họ lại đang hào hứng với thành công của hội nghị nên ông biết sự có mặt của ông sẽ làm mọi người mất vui. Đã mấy năm nay ông nghiệm ra cứ thấy cái mặt lạnh lùng, nghiêm nghị của ông xuất hiện ở đâu là ở đó lại nghiêm trang, chỉn chu đến lạ. Những cái miệng đang leo lẻo tán phét hoặc đang ngoác ra cười bỗng lặng phắc như bị dán nhựa mít. Nhiều lúc ông cũng muốn cải thiện tình hình đó đi nhưng quả thật là khó. Cái bản tính khắt khe và cái vẻ mặt lúc nào cũng nghiêm nghị đến lạnh lùng của ông nó hại ông, làm cho ông rất khó hòa nhập với mọi người. Thôi thì tốt nhất là tránh đi để mọi người vui vẻ là hơn. Quả thật, ông vừa mới về đến nhà đã thấy dưới nhà ăn ồn ào như chợ vỡ, to tiếng nhất là Bùi Tâm. Ông lẩm bẩm: “cái cậu này mới vào miền Nam có mấy năm mà lời ăn tiếng nói đã đặc sệt kiểu anh Hai. Uống thế này thì chiều nay làm việc với ông làm sao được”.


Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

NGÀY 17.2- NHỚ VỀ BA LẦN HÀNH BINH THẦN TỐC CỦA LỮ ĐOÀN XT 203

Khâm phục 3 lần hành binh thần tốc của Lữ đoàn xe tăng 203

Họ đã thực hiện cuộc hành binh thần tốc vượt cả nghìn km, khiến giới chuyên môn thế giới phải ngả mũ khâm phục. Với những người lính xe tăng 203 thì đó không phải là lần duy nhất.

"Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!".
Bức điện ngày 7 tháng Tư năm 1975 của Đại tướng Tổng Tư lệnh như một lời hiệu triệu với toàn quân nói chung và với cán bộ- chiến sĩ Lữ đoàn xe tăng 203 nói riêng.
Đáp lời hiệu triệu, họ đã thực hiện một cuộc hành binh thần tốc vượt cả nghìn km mà giới chuyên môn trên thế giới phải ngả mũ khâm phục. Nhưng với những người lính 203 thì đó không phải là lần duy nhất.
"Thần tốc" lần thứ nhất
Đó là cuộc hành binh về phía nam trong đội hình cánh quân Duyên Hải nhằm giải phóng nốt phần đất còn lại của nửa nước thân yêu tháng Tư năm 1975. Đây là thời điểm ta vừa giải phóng thành phố Đà Nẵng xong và đội hình Lữ đoàn 203 từ nội đô, từ bán đảo Sơn Trà… cũng vừa mới tập hợp lại về doanh trại của Sư đoàn 3 Quân lực VNCH tại Khánh Sơn.
Vẫn biết làm lính của một Binh đoàn chủ lực thì việc cơ động "đánh đông, dẹp bắc" cũng là sự thường song nhìn về phía trước mới thấy đày rãy những khó khăn. Quãng đường cơ động thì xa mà thời gian thì lại vô cùng gấp gáp. Nhưng đâu chỉ đơn giản chạy không thôi mà phải "đánh địch mà đi, mở đường mà tiến".
Trong khi rút chạy, quân địch đã phá hàng chục cây cầu lớn nhỏ trên dọc Quốc lộ 1 để cản bước quân ta. Bên cạnh đó, dưới sự cố vấn của Đại tướng Uây- en, Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ chính quyền Sài Gòn đã thiết lập một tuyến phòng thủ mới tại Phan Rang hòng cố giữ phần đất còn lại để tìm một giải pháp chính trị mong manh nào đó.
Khâm phục 3 lần hành binh thần tốc của Lữ đoàn xe tăng 203 - Ảnh 1.
Bộ đội xe tăng thần tốc hành quân, đánh chiếm và vượt qua nhiều ổ đề kháng của địch.
Trong khi đó, xe pháo trang bị thì cũ nát lại vừa trải qua một quãng đường hành quân chiến đấu thật dài. Sức người cũng vậy, từ quan đến lính sau hàng chục ngày hành quân, chiến đấu căng thẳng ai cũng sọm hẳn đi, gương mặt người nào cũng sạm đen, khắc khổ chỉ có hàm răng là trắng.
Thế là chẳng có thời gian để nghỉ ngơi, cũng chẳng có lúc nào để tìm hiểu xem mảnh đất mà chính mình vừa giải phóng nó vuông tròn ra làm sao tất cả lại hối hả lao vào làm công tác chuẩn bị. Những nắp truyền động được mở tung lên.
Những bộ quần áo công tác lại bê bết dầu mỡ. Những gương mặt đã cháy đen vì nắng gió lại thêm một lần nhẻm đen khói bụi. Thủ trưởng và sĩ quan cơ quan Lữ đoàn thì bù đầu bởi những kế hoạch với quyết tâm. Đường sá thì như thế, địch tình thì như thế… phải tổ chức hành quân thế nào để đảm bảo đến đích đúng thời gian quy định.
Và rồi những quyết định sáng suốt nhất, khoa học nhất đã được đưa ra. Đường hỏng, cầu yếu thì tổ chức bộ phận phái đi trước gồm các đơn vị xe lội nước. Và cũng chính lực lượng này sẽ phải đột phá chọc thủng "lá chắn thép Phan Rang" để mở đường cho chủ lực vượt qua.
Và nếu chọc thủng được cái lá chắn này cũng là một đòn hỗ trợ cho người anh em Binh đoàn Cửu Long đang gặp khó ở Xuân Lộc. Còn đại bộ phận sẽ tranh thủ củng cố tốt nhất xe pháo, trang bị để cơ động phía sau và sẽ là lực lượng chủ lực tham gia trận đánh cuối cùng - chiến dịch Hồ Chí Minh.
Và ngày 7 tháng Tư, khi Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 5 của Lữ đoàn chuẩn bị xuất quân thì bức điện "Thần tốc" của Đại tướng đến. Bức điện ngắn thôi song nó như một lời hiệu triệu của non sông đất nước làm phơi phới những tâm hồn lính trẻ.
Giờ xuất phát được lùi lại ít phút để truyền đạt mệnh lệnh, để mỗi xe kịp kẻ lên tháp pháo hai chữ "THẦN TỐC" diệu kỳ bằng đủ thứ vật liệu mà lính tráng có thể nghĩ ra. Thật là ngắn gọn, thật là giản dị nhưng cũng thật là ý nghĩa.
Với ý chí đó, với tâm thế đó, chỉ một tuần sau họ đã tới Phan Rang và thực hiện một trận " tiến công trong hành tiến" vô cùng độc đáo. Không chỉ chọc thủng "lá chắn thép Phan Rang" mà còn quét sạch bóng quân địch trên một chiều dài 70 ki- lô- mét chỉ trong một ngày đêm.
Đúng là một kỷ lục. Tiếp đó là Phan Thiết, Hàm Tân… cũng lần lượt được giải phóng để tạo ra cái thế chẻ tre, làm lung lay cánh cửa thép cuối cùng Xuân Lộc, mở ra con đường thênh thang cho đại quân sẵn sàng thẳng tiến Sài Gòn.
Trong lúc đó, hai tiểu đoàn xe tăng chủ lực cũng đã lên đường. Đường Quốc lộ 1 thênh thang, mặt đường nhựa át- phan phẳng lỳ theo tiêu chuẩn Mỹ cho phép chạy tốc độ đối đa. Tuy nhiên, những cây cầu bị phá mới chỉ được bắc bằng cầu tạm mà trọng tải tối đa của nó chỉ chịu được 2/3 trọng lượng xe tăng vẫn là một thách thức không hề nhỏ.
Và rồi rất nhiều sáng kiến đã được đề xuất, trong đó có cả những sáng kiến rất "liều". Tất cả đều nhằm một mục tiêu là đến đích trước thời gian quy định. Chỉ cần có tín hiệu thông đường là gần 60 chiếc xe tăng lại sầm sập lao đi như một cơn "bão thép" không gì cản nổi.
Cả một dải dằng dặc Khu Năm khúc ruột miền Trung- những Nam, Ngãi, Bình, Phú, Khánh Hòa rồi Phan Rang, Phan Thiết… nằm lại sau những băng xích thép. Và ngày 24 tháng Tư năm 1975 - đúng 10 ngày sau khi xuất phát từ Đà Nẵng toàn bộ Lữ đoàn đã tới vị trí tập kết chiến dịch tại Rừng Lá sớm hơn thời gian quy định của trên để sẵn sàng bước vào trận đánh cuối cùng.
Và chính nhờ tập kết đủ lực lượng trước thời gian quy định nên Lữ đoàn có đủ thời gian chuẩn bị làm nên "trận cuồng phong" oanh liệt trên hướng Đông của chiến dịch.
Rồi thì Lịch sử binh chủng Tăng Thiết Giáp Việt Nam cũng như Lịch sử xe tăng thế giới sẽ phải dành những lời đặc biệt nhất cho cuộc hành binh "thần tốc" này. Có ở đâu trên trái đất này lại tổ chức những cuộc hành quân bộ bằng xích cho xe tăng dài hàng nghìn km như thế hay không?
Còn những người lính tăng năm xưa - nhất là cánh lái xe - nay đầu đã đốm bạc thì khi kể về cuộc hành binh đó vẫn cứ thắc mắc: "Không hiểu trong 10 ngày đó mình đã ngủ vào lúc nào?".
Khâm phục 3 lần hành binh thần tốc của Lữ đoàn xe tăng 203 - Ảnh 2.
Xe tăng Lữ đoàn 203 húc đổ cổng vào chiếm Dinh Độc Lập.
"Thần tốc" lần thứ hai
Xin nói ngay: đó là cuộc hành binh về địa bàn Quân khu 9 để chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.
Tháng 6 năm 1976, sau khi hoàn thành nhiệm vụ truy quét Phun-rô tại Lâm Đồng, Lữ đoàn đã về đứng chân trên mảnh đất Thừa Thiên Huế- nơi phát tích của Binh đoàn Hương Giang. Đất nước đã thống nhất, non sông thu về một mối ai cũng nghĩ từ nay vĩnh viễn được sống trong hòa bình, độc lập và tự do.
Thế rồi, những người lính cựu lần lượt rời tay lái, tay tầm, tay hướng trở về quê hương tiếp tục thực hiện ước mơ còn bỏ dở trên những cánh đồng hay dưới mái giảng đường đại học. Nhưng "cây muốn lặng, gió chẳng đừng".
Bè lũ Pôn Pốt bên kia biên giới được sự hậu thuẫn của quan thày của chúng đã điên cuồng gây hấn. Không chỉ thực hiện cuộc cách mạng "diệt chủng" vô cùng tàn bạo trong nước chúng còn vượt qua biên giới thảm sát dã man đồng bào của ta bất chấp công pháp quốc tế và tình nghĩa keo sơn giữa hai dân tộc.
Tình thế buộc chúng ta phải một lần nữa cầm súng chiến đấu và những người lính 203 lại một lần hành binh thần tốc tiến về phương nam làm nhiệm vụ của mình.
Khâm phục 3 lần hành binh thần tốc của Lữ đoàn xe tăng 203 - Ảnh 3.
Lữ đoàn xe tăng 203 huấn luyện sẵn sàng chiến đấu.
So với cuộc hành binh mùa Xuân năm 1975, cuộc hành binh lần này có nhiều thuận lợi hơn song khó khăn thách thức cũng không hề kém. Nếu như năm 1975 cả Lữ đoàn cùng hành quân bộ theo Quốc lộ 1 thì lần này các phương tiện cơ động đa dạng hơn rất nhiều.
Khối chỉ huy cơ quan cần vào trước để nghiên cứu địa hình, chuẩn bị chiến trường thì được đi máy bay. Khối trang bị nặng đã có thêm phương tiện chuyên chở đường biển. Còn khối các đơn vị bảo đảm thì hành quân theo đường bộ.
Với kinh nghiệm của cuộc hành binh thần tốc lần thứ nhất, toàn Lữ đoàn như một guồng máy nhịp nhàng cùng nhằm tới cái đích: Biên giới Tây Nam - nơi kẻ thù đang hung hãn sát hại đồng bào ta từng giờ từng phút.
Vậy là ngày 16.12.1978, quyền lữ đoàn trưởng Trần Minh Công cùng một số sĩ quan tham mưu lên máy bay thì ngày 19.12 toàn bộ đội hình của Lữ đoàn đã xuất phát. Thế mà chỉ 6 ngày sau - ngày 25.12.1978, toàn lữ đoàn đã có mặt tại vùng Tri Tôn, Bảy Núi xa tít phía Tây Nam để sẵn sàng làm nhiệm vụ.
Tuy nhiên, vẫn là những chiếc tăng, thiết giáp đã trải qua bao năm trận mạc nên giờ đây nó đã già nua hơn, cũ kỹ hơn, nhiều chiếc còn mang nguyên những vết thương của cuộc chiến tranh lần trước.
Trong khi đó, đội ngũ thành viên kíp xe già dơ, kinh nghiệm đày mình thì đã lần lượt ra quân nên để thực hiện được cuộc hành binh thần tốc lần thứ hai này, cán bộ chiến sĩ Lữ đoàn đã phải vượt qua bao nhiêu là khó khăn, vất vả.
Nhờ có mặt đúng thời gian quy định, lại được chuẩn bị kỹ càng Lữ đoàn 203 đã hoàn thành xuất sức nhiệm vụ, cùng các đơn vị bạn tiêu diệt và làm tan rã 2 sư đoàn 230, 250 của địch, giải phóng một vùng rộng lớn thuộc các tỉnh phía nam Căm Pu Chia.
Kết thúc chiến dịch, Lữ đoàn được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất, Đại đội 7 thuộc Tiểu đoàn 3 của Lữ đoàn được tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.
Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Giữa lúc toàn Lữ đoàn còn đang cùng các đơn vị bạn tảo thanh, truy quét quân địch trên đất bạn thì ngày 17 tháng Hai năm 1979, bè lũ phản động Bắc Kinh đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Bắc của nước ta.
Không thể để cho bọn xâm lược muốn làm gì thì làm, những người lính của Binh đoàn chủ lực lại một lần nữa nhận lệnh cơ động ra phía Bắc.
Khâm phục 3 lần hành binh thần tốc của Lữ đoàn xe tăng 203 - Ảnh 4.
Lữ đoàn xe tăng 203 huấn luyện sẵn sàng chiến đấu.
Cuộc hành binh thần tốc lần thứ Ba
Đã trải qua mấy cuộc chiến tranh liên tục, hỏi có người Việt Nam nào lại thích cảnh máu chảy, đầu rơi, thấy cảnh mũi tên, hòn đạn ngay trên quê hương của mình nữa. Song "Dù rằng đời ta thích hoa hồng; Kẻ thù buộc ta ôm cây súng".
Một lần nữa Lữ đoàn xe tăng 203 nhận lệnh hành binh ra Bắc chặn giặc. Và đó lại là một cuộc hành binh thần tốc vì nước đang ở xa, phải nhanh chóng cơ động tới nơi mới mong dập tắt được lửa hung tàn đang bùng phát dữ dội.
So với hai cuộc hành binh lần trước thì cuộc hành binh lần này có độ dài gấp đôi- suốt dọc chiều dài đất nước với độ dài đường hành quân lên đến 2000 ki- lô- mét. Nhưng cũng như lần thứ hai, các phương tiện vận chuyển rất phong phú, đa dạng và được ưu tiên hết sức.
Lại đã có thêm bao kinh nghiệm tích lũy được trong hai lần cơ động vừa rồi. Và trên hết là lòng căm thù, ý chí quyết tâm bảo vệ vững chắc từng tấc đất biên cương đã làm cho những người lính của Lữ đoàn 203 như có lửa ở trong tim.
Ngày 06 tháng Ba năm 1979, quyền Lữ đoàn trưởng Trần Minh Công dẫn đầu một nhóm sĩ quan đi máy bay ra trước để trinh sát địa hình, tìm vị trí đứng chân đồng thời bước đầu xây dựng kế hoạch tác chiến.
Ngày 16 tháng Ba, trong khi toàn bộ cán bộ- chiến sĩ (trừ trưởng xe và lái xe) về Tân Sơn Nhất để lên máy bay bay ra Gia Lâm thì gần trăm chiếc xe tăng, thiết giáp lại cơ động về Hà Tiên xuống tàu thủy để ra cảng Hải Phòng.
Tiếp đó là hơn trăm km đường sắt, đường bộ nữa để đến ngày 21 tháng Ba toàn bộ lực lượng, phương tiện của Lữ đoàn đã có mặt ở Trại Cau, Thái Nguyên sẵn sàng đánh địch. Quả thật là một kỷ lục về tốc độ hành binh, một kỳ tích của sự cơ động tăng thiết giáp. Vua Quang Trung nếu có sống lại chắc cũng phải dành cho hậu thế những lời khen ngợi tự đáy lòng.
Chỉ trong vòng 4 năm trời, với 3 cuộc hành binh "thần tốc" dọc chiều dài đất nước- những người lính của Lữ đoàn xe tăng 203 đã làm nên những kỳ tích sẽ còn sáng mãi trong lịch sử. Rất mong truyền thống này sẽ được các thế hệ cán bộ- chiến sĩ trẻ ngày nay tiếp nối.
Còn những bài học kinh nghiệm sinh động và sáng tạo trong những cuộc hành binh thần tốc này sẽ được cụ thể hóa, được truyền đạt lại trong các khoa mục huấn luyện. Để một khi Tổ Quốc cần, Lữ đoàn lại sẵn sàng lên đường "THẦN TỐC".
Nguồn: http://soha.vn/kham-phuc-3-lan-hanh-binh-than-toc-cua-lu-doan-xe-tang-203-20160622073824489.htm

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2017

BÃO THÉP 2- ÁP THẤP ĐƯỜNG SỐ CHÍN- Kỳ 8


          Trên đường từ mặt trận ra Bắc chính ủy Ngọc và tham mưu trưởng Dương đã bàn nhau về chương trình công tác sắp tới. Họ nhất trí với nhau: trước mắt sẽ phát động một phong trào thi đua học tập gương chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ đoàn 198 đã ra quân đánh thắng trận đầu. Phía ông Dương sẽ khẩn trương hoàn chỉnh tài liệu những bài học kinh nghiệm của trận đánh Tà Mây- Làng Vây để đưa vào huấn luyện. Về lâu dài sẽ xây dựng kế hoạch phát triển lực lượng, đồng thời chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết 10 năm xây dựng binh chủng vào năm tới. Hai ông được phép ghé qua nhà một đêm, ngày mai xe của binh chủng sẽ lên đón họ về cơ quan.
          Chiếc xe con đón họ từ Hà Nội về đã rẽ vào đường 2B. Đây là con đường dẫn lên khu nghỉ mát Tam Đảo. Chính ủy Ngọc và tham mưu trưởng Dương bồi hồi nhìn khung cảnh xung quanh. Mới đi xa có mấy tháng mà trông cảnh vật đã thay đổi quá nhiều, hay là do mấy tháng ở rừng nên bây giờ trông những ngọn đồi đất đỏ trơ trụi họ thấy lạ mắt không biết. Chẳng mấy chốc xe đã qua doanh trại 92. Nhìn khu doanh trại bề thế với những ngôi nhà to đẹp, khang trang giờ đang nằm im lìm hoang phế vì chiến tranh phá hoại chính ủy Ngọc chép miệng:
          - Nếu không có bọn đế quốc Mỹ này thì dân ta sẽ sung sướng biết bao.
          Tham mưu trưởng Dương cũng cảm thán:
          - Chúng tàn bạo quá, sức mạnh hủy diệt của chúng cũng thật khủng khiếp. Nhưng tôi tin rằng trước sau chúng sẽ phải cúi đầu trước dân mình mà thôi.
          Khu vực sơ tán của cơ quan đã hiện ra trước mặt. Thấy chiếc xe con dừng trước nhà công vụ Lưu đã chạy vội ra, cậu ta xuýt xoa:
          - Chào các thủ trưởng! Thủ trưởng gày thế, cả thủ trưởng Dương nữa, gày mà đen đi nhiều.
          Chính ủy Ngọc cười:
          - Đây không gọi là gày và đen mà phải gọi là nhuốm “khói bụi chiến trường”.
          Lưu thật thà:
          - Hôm nay các thủ trưởng thích ăn gì để em nấu.
          Tham mưu trưởng Dương hóm hỉnh:
          - Vào trong ấy thấy chả thèm cài gì cả, chỉ thèm mỗi món nước chè xanh của cậu thôi.
          Cậu ta xăng xái xách ba lô cho chính ủy Ngọc. Hai ông bắt tay nhau rồi ai về nhà nấy.
          Ngay sau đó chính ủy Ngọc đã triệu tập chủ nhiệm chính trị Thu đến gặp. Vừa vào đến cửa chủ nhiệm chính trị Thu đã trầm trồ:
          - Chào chính ủy! Trông chính ủy phong trần quá. Chắc anh phải sút đến mấy cân đấy nhỉ?
          Chính ủy Ngọc đứng dạy đưa tay ra vồn vã:
          - Nào! Ngồi xuống đây đã. Đi qua nông trường Tây Hiếu các o công nhân cho nhiều cam quá, ông dùng đi.
          Chuyện vãn một hồi chính ủy Ngọc mới vào vấn đề chính:
          - Bây giờ anh báo cáo thật tóm tắt tình hình ở nhà máy tháng qua cho tôi biết, có vấn đề gì đặc biệt không?
          Chủ nhiệm chính trị Thu cười thật tươi:
          - Báo cáo anh! Từ ngày anh đi chiến trường mọi việc ở nhà vẫn bình thường. Còn nếu nói về vấn đề đặc biệt thì chỉ có một sự kiện hết sức đặc biệt: đó là không khí phấn khởi trong toàn binh chủng trước chiến thắng trận đầu của ta tại Tà Mây, Làng Vây.
          Chính ủy Ngọc gật đầu:
          - Tôi công nhận đó là một sự kiện đặc biệt đối với toàn binh chủng chúng ta. Thế ở nhà các anh đã làm những gì rồi?
          Chủ nhiệm chính trị Thu sôi nổi:
          - Dạ! Chúng tôi đã cho anh em chuẩn bị một bản đề cương tuyên truyền về chiến thắng Tà Mây- Làng Vây. Qua việc học tập về điện khen của Bộ Tổng tư lệnh và bài báo đăng trên báo Nhân Dân để bộ đội thấy rõ ý nghĩa của chiến thắng này. Hiện nay khí thế các đơn vị đang lên hừng hực, hàng trăm bản quyết tâm thư xin đi chiến đấu đã được gửi về đây.
          Chính ủy Ngọc tỏ vẻ hài lòng, ông chậm rãi:
          - Như vậy là các anh đã rất nhậy bén theo kịp tình hình. Tôi dự định tới đây sẽ phát động một đợt thi đua “học tập gương chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ đoàn 198, huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao” rộng khắp trong toàn binh chủng. Qua đó giáo dục cho anh em thấy hết những khó khăn, gian khổ, ác liệt hy sinh mà bộ đội ta đang phải chịu đựng trên các chiến trường để bộ đội xác định tư tưởng, chuẩn bị thật tốt cho ngày đi chiến đấu. Tôi tin rằng sắp tới sẽ có nhiều đơn vị của ta được đưa vào chiến trường đấy.
          Chủ nhiệm chính trị Thu gật đầu:
          - Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của anh. Chúng tôi sẽ chuẩn bị ngay.
          Trái với cái vẻ trầm lặng trong căn nhà của chính ủy, không khí ở phòng tham mưu thật sôi nổi. Túi cam Tây Hiếu chỉ một loáng đã được các sĩ quan phòng tham mưu đánh sạch, còn giờ họ đang cười nghiêng ngả trước những câu chuyện tiếu lâm chiến trường của tham mưu trưởng Dương. Trợ lý tác huấn Phùng cố nén cơn cười lập bập:
          - Đi chiến trường lần này kho chuyện tiếu lâm của tham mưu trưởng có vẻ được bổ sung khá nhiều.
          Tham mưu trưởng Dương cười mỉm:
          - Tiếu lâm đâu mà tiếu lâm! Toàn chuyện thật cả đấy.
          Tham mưu phó Ba góp chuyện:
          - Có mà thủ trưởng bịa như thật ấy!
          Căn phòng rộng lại òa lên những tiếng cười.
          Đợi cho mọi người cười thoải mái tham mưu trưởng Dương mới từ tốn:
          - Báo cáo các đồng chí! Do anh Đào đã vào chiến trường nên tôi và anh Ngọc phải ra để lo việc ngoài này. Một phần nữa là do sức khỏe tôi hơi kém, cứ bị đau bụng luôn nên anh Đào bắt tôi phải ra điều trị. Tuy nhiên cũng có một số công việc phải làm ngay. Trước hết chúng ta phải tổng hợp diễn biến hai trận đánh Tà Mây và Làng Vây, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm để làm chiến lệ cho anh em liên hệ và vận dụng vào quá trình huấn luyện. Thứ hai là ta sẽ phải căn cứ vào những bài học kinh nghiệm này để chỉnh sửa lại những nội dung chưa thật phù hợp của các tài liệu chiến thuật. Thứ ba là chúng ta phải lập kế hoạch đưa xe tăng đi B, tôi tin rằng trong vòng một vài năm nữa yêu cầu của chiến trường sẽ rất lớn. Ở chỗ này ta phải căn cứ vào điều kiện từng chiến trường để xác định quy mô, tổ chức đi như thế nào cho tối ưu. Còn một nhiệm vụ nữa là chúng ta phải nghiên cứu thêm về tổ chức biên chế của các trung đoàn xe tăng sao cho phù hợp với điều kiện tác chiến ở chiến trường miền Nam. Thực tế vừa qua cho thấy công tác bảo đảm mà hoàn toàn trông chờ vào cấp trên hoặc đơn vị bạn thì sẽ rất bất lợi. Sau đây các đồng chí tiếp tục công việc của mình, xin mời anh Ba, anh Phùng và ban quân lực ở lại làm việc với tôi.
          Mọi người tản ra về phòng làm việc, còn bốn thày trò họ chụm đầu lại bên cái bàn lớn, lúc thì thủ thỉ như tâm sự, lúc lại tranh luận ầm ĩ cho đến tận khi kẻng báo hết giờ vang lên.

           ***

          Trưa nay Hiền nhận được lá thứ thứ tư của Nhã lúc đang lúi húi nấu cơm. Nhìn cái phong bì còn mới và dấu bưu điện Hà Nội Hiền đoán chắc có ai từ trong đó ra và Nhã đã nhờ cầm hộ thư. Như vậy là họ đã xa nhau hơn sáu tháng. Lá thư đầu tiên Nhã viết cho cô lúc anh dừng chân ở Tây Quảng Bình chuẩn bị vượt Trường Sơn sang Lào, anh bảo chưa có hòm thư nên cô đừng nóng ruột. Hai lá tiếp theo đều viết từ đường Chín nhưng cũng mất hơn một tháng mới đến tay cô, lá nào lá ấy nhàu nhĩ, nát bươm như đã phải trải qua một đoạn đường đầy gian khổ. Cầm lá thư cô chạy vội lên nhà trên định khoe với mẹ chồng nhưng mẹ Nhã đã đi đâu không biết, chắc là lại chạy quanh mấy nhà hàng xóm. Không thể đợi được mẹ chồng về chung vui cô xé vội mép phong bì rồi lôi bức thư ra ngấu nghiến đọc. Thì ra các anh ấy đã tham gia chiến đấu trận đầu tiên và đã chiến thắng oanh liệt. Càng đọc Hiền càng buồn cười: “thư viết cho vợ mà toàn kể chuyện đánh nhau, toàn thấy pháo nổ, đạn bay rồi xung phong, thọc sâu”. Nhưng rồi cô chau mày lại, hai mắt rơm rớm nước: “thế là anh Tú chính trị viên, người thay mặt đơn vị về dự đám cưới cô đã không còn nữa”. Hiền buông lá thư xuống giường, nước mắt lã chã rơi. Cô còn nhớ như in gương mặt hiền lành mà rắn rỏi của anh khi anh đứng lên thay mặt đơn vị chúc đôi tân hôn “vui duyên mới không quên nhiệm vụ”. Trong bữa liên hoan anh còn nâng chén rượu :”chúc vợ chồng cô sớm cho bà có cháu bế, ngày đó anh sẽ về thăm và sẽ có quà đặc biệt cho mẹ con cô”. Thế là cả lời chúc và lời hứa của anh đến nay đều không thành hiện thực.
          Ngày đó biết mẹ chồng đã mong mỏi từ lâu nên có gần một tuần bên nhau cô đã vượt qua mọi khuôn phép của một cô gái nhà lành để yêu chiều chồng hết mực. Nhưng rồi đến kỳ lại thấy “ươn mình” cô buồn lắm. Cô không buồn cho mình mà chỉ thương mẹ chồng khi nhìn thấy vẻ thất vọng không giấu được trên gương mặt cụ.
          Đúng lúc ấy thì mẹ Nhã về. nhìn khuôn mặt đẫm nước mắt của con dâu, lại thấy lá thư vứt chỏng chơ trên giường bà hốt hoảng:
          - Có chuyện gì thế con?
          Hiền vội vàng đưa tay lau nước mắt rồi vuốt lại mái tóc, cô nhẹ nhàng:
          - Dạ! Không có chuyện gì đâu ạ! Nhận được thư nhà con con mừng quá đấy mà.
          Mẹ Nhã hồ hởi:
          - Thế mà mày làm mẹ hết cả hồn! Thế thư nó viết những gì?
          Hiền đã lấy lại được bình tĩnh, cô cười mủm mỉm:
          - Buồn cười lắm mẹ ạ! Chắc anh ấy phấn khởi vì đã tham gia chiến đấu và chiến thắng oanh liệt nên viết thư về nhà mà toàn kể chuyện đánh nhau. Để con đọc mẹ nghe nhé!
          Hiền cầm lá thư lên dõng dạc đọc, mẹ Nhã ngồi nghe cũng bật cười:
          - Cái thằng! Ngốc vẫn hoàn ngốc.
          Nhưng rồi Hiền giấu biệt đoạn nói về anh Tú hy sinh, cô gập lá thư vào rồi lấp liếm:
          - Còn chỗ này anh ấy viết riêng cho con, đọc xấu hổ lắm.
          Bà cụ dễ dãi:
          - Thôi được rồi! Biết nó vẫn khỏe lại phấn khởi thế là mẹ mừng rồi- Bà đứng dạy te tái- Để mẹ xuống nấu cơm cho, cứ ngồi đấy mà đọc thư đi.
           Hiền mở bức thư ra đọc tiếp. Đến lúc này cô mới biết Nhã lại tiếp tục đi sâu vào phía nam, hòm thư sẽ thay đổi nhưng bây giờ chưa có. Thế là mấy bức thư cô viết cho anh sẽ lại lang thang trên những nẻo đường và không biết có đến tay anh được hay không. Cô ngồi thần ra, hai hàng nước mắt lại rơi lã chã.

           ***

          Cứ tưởng bọn Mỹ chỉ đổ quân xuống tập kích các đơn vị của ta đang đứng chân ở A Lưới- A Sầu rồi một hai ngày sau sẽ rút, không ngờ chúng lại nằm lỳ ở đó. Vì vậy không khí ở đại đội 9 lúc nào cũng căng như dây đàn. Tất cả mọi hoạt động nấu ăn, cải thiện được giao cho tiểu đội công binh và thợ thực hiện, còn toàn bộ thành viên kíp xe phải thường xuyên có mặt tại xe để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu ở mức cao nhất. Một vài loạt B52 cũng đã rơi sát sạt chỗ đơn vị trú quân nhưng không gây thiệt hại gì đáng kể. Bọn trực thăng vũ trang cũng đã mấy lần quần lượn trên đầu nhưng nhờ những tán cây dày đặc ven suối nên chúng cũng không phát hiện được các anh.
          Sau hôm chuyển vào đây được một tuần đồng chí tham mưu phó mặt trận B4 đã xuống kiểm tra nắm tình hình đơn vị, ông biểu dương Tân và các đồng đội đã quyết định chính xác khi bí mật di chuyển vào đây và thực hiện án binh bất động. Ông cho biết đợt này quân Mỹ đã dồn vào đây một lực lượng khá lớn, chúng đã đổ quân xuống hơn chục điểm trên toàn bộ thung lũng và đã thiết lập hệ thống công sự, vật cản tương đối vững chắc, có khả năng chúng đang tìm cách chiếm lại toàn bộ thung lũng. Hàng ngày chúng tung quân ra thám sát xung quanh tới hai, ba ki- lô- mét. Khi phát hiện dấu hiệu quân ta thì gọi không quân, pháo binh tập kích bằng hỏa lực cho “nát nhừ” rồi mới xông vào. Tân nghĩ bụng: “thật may là các anh đã chuyển quân kịp thời, ngày hôm sau lại cho công binh ra xóa dấu vết chứ không thì gay go to”.  
          Tham mưu phó mặt trận còn cho biết về phía ta lúc đầu có hơi bị động nên phải dạt vào các dãy núi cao nhưng quyết tâm của mặt trận sẽ không để bọn địch thực hiện ý định của chúng. Hiện nay các đơn vị của ta đang triển khai thế trận bao vây quân địch, thực hiện các đòn tập kích liên tục để tiêu hao từng bộ phận tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch hoặc buộc chúng phải rút quân. Tuy nhiên trước mắt sẽ không sử dụng đến xe tăng, nhiệm vụ của các anh vẫn là giữ bí mật bảo toàn lực lượng để dùng vào những việc lớn sau này. Khi Tân xin ý kiến ông về việc tìm một chỗ trú quân ổn định, lâu dài ông hoàn toàn nhất trí và gợi ý cho anh nên đi sâu vào phía nam sân bay A Sầu.
            Nhưng việc lo lắng là của cán bộ chứ đối với cánh lính trẻ thì không phải luồn rừng cải thiện, không phải làm kỹ thuật cũng như trăm thứ việc không tên ở chiến trường là khoái rồi. Tuy có bó buộc một tý nhưng còn sướng chán, cứ nằm đấy tán gẫu rồi đến bữa thì ăn. Có vẻ khoái nhất là Hòa và Thắng, hai cậu nằm dài trong buồng chiến đấu kể cho nhau nghe những “chiến tích” thuở học trò. Cân thì vẫn không rời mấy cuốn sổ, cậu cắm cúi ghi chép, gạch xóa, thỉnh thoảng cũng đá đưa vài câu với hai anh bạn cùng xe.
          Nhã không tham gia vào câu chuyện của mấy chàng trai trẻ, anh ngồi dựa lưng vào tháp pháo ngắm trời ngắm đất và mơ màng về cái làng nhỏ thân thương nơi có mẹ già và Hiền đang khắc khoải chờ anh ở đó. Từ hôm xuất phát đi chiến trường đến nay đã tròn sáu tháng, anh đã viết về nhà bốn lá thư nhưng chưa nhận được hồi âm. Cũng phải thôi, vừa mới ấm chỗ ngoài đường Chín đã lại chạy tuốt vào đây thì thư nào chạy theo cho kịp. Anh biết chắc một điều khi nhận được hòm thư thế nào Hiền cũng viết cho anh ngay. Nhưng giờ đây lại thay đổi địa chỉ thế này thì những lá thư đó chắc đang lưu lạc tận đẩu đâu. Từ hôm vào trở thành quân B4 anh cũng cứ nấn ná đợi có hòm thư mới sẽ viết thư cho Hiền nhưng đến tận bây giờ cũng chưa thấy thông báo. Không biết một tuần bên nhau ấy có “kết quả” gì không? Nhã biết cả Hiền và nhất là mẹ nữa mong mỏi điều đó biết nhường nào! Thật khổ cho Hiền, vợ chồng vừa mới bén hơi nhau đã lại xa biền biệt, nếu sớm có đứa con cô ấy sẽ đỡ buồn. Nói ra thì ngượng chứ nhiều đêm trong căn hầm chật chội dưới bụng xe ở nam đường Chín anh đã ôm cứng lấy Thắng mà ngấu nghiến, may mà nó đang tuổi ăn tuổi ngủ nên mặc anh vầy vò vẫn kéo gỗ khò khò cho đến lúc anh giật mình tỉnh dậy và vội buông ra. Còn Hiền, em sẽ làm thế nào đây khi nhớ đến anh?
          Cứ như vậy suốt hai mươi mốt ngày, sang ngày thứ hai mươi hai thì hàng đoàn trực thăng lại xuất hiện và chỉ trong một buổi sáng toàn bộ quân địch đã được bốc đi chỉ để lại thung lũng A Sầu- A Lưới những bãi đất ngổn ngang dây thép gai, công sự bê tông và vỏ đạn pháo. Ngay lập tức tiểu đoàn trưởng Tân và mấy cán bộ xuôi về phía nam A Sầu để tìm chỗ xây dựng cơ ngơi mới.
         
          ***

          Đúng như dự cảm của quyền tư lệnh Đào, với chủ trương khôi phục thế trận vây hãm, cô lập Khe Sanh cả về đường bộ và đường không đồng thời tăng cường đánh nhỏ của Bộ tư lệnh mặt trận thì tiểu đoàn xe tăng 198 chỉ còn biết nằm im chờ lệnh. Quả thật khi tình thế đã như vậy thì rất khó sử dụng xe tăng. Tuy nhiên chính sự thay đổi về mặt chiến thuật này đã phát huy tác dụng. Sư đoàn không vận số 1 của Mỹ sau một thời gian “tác oai, tác quái” nay liên tục đổ quân vào chỗ không người lại bị tập kích hỏa lực thiệt hại nặng nên đã bị rút đi. Số còn lại thì co cụm cố thủ trong công sự vững chắc như những con chuột ngày, thỉnh thoảng mở một cuộc hành quân giải tỏa lại bị phục kích chặn đánh nên đành lui về cứ điểm dùng hỏa lực ngăn chặn. Đường băng sân bay Tà Cơn thường xuyên bị pháo kích làm cho việc tiếp tế ngày một khó khăn.
          Trước những bế tắc trong đường lối tiến hành chiến tranh ở miền Nam và những thất bại nặng nề trong nửa đầu năm 1968 chính phủ Mỹ quyết định triệu hồi đại tướng Oét- xmo- len về nước và đưa tướng A- bram sang làm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Mỹ ở miền Nam. Vừa có mặt tại Việt Nam tướng A- bram đã có những hành động cấp bách nhằm giải quyết vấn đề Khe Sanh từ lâu đã như một cái “dằm” trong đầu các chính khách Mỹ. Chúng mở cuộc hành quân mang mật danh “Xcốt- len II” với sự tham gia của một lực lượng lớn lính thủy đánh bộ cùng hàng trăm máy bay lên thẳng nhằm giải cứu Khe Sanh.
          Tuy nhiên mọi nỗ lực của Bộ chỉ huy cũng như quân lính trên chiến trường đã không đạt được mục tiêu. Chúng không những không giải cứu được Khe Sanh mà còn bị đánh cho thiệt hại nặng nề. Không chịu nổi sức ép từ nhiều phía ngày 26 tháng 6 năm 1968 tướng A- bram ra lệnh “triệt thoái Khe Sanh”.
          Khi nhận được tin này không khí trong sở chỉ huy mặt trận Đường Chín- Khe Sanh lập tức trở nên nhộn nhịp. Các cơ quan chạy ngược, chạy xuôi lên kế hoạch đánh địch rút chạy. Quyền tư lệnh Đào lên gặp trực tiếp tư lệnh mặt trận, ông khẩn khoản:
          - Đề nghị anh cho xe tăng chúng tôi tham gia đánh đuổi địch vài trận. Với sức cơ động cao và hỏa lực mạnh tôi tin rằng sẽ rất hiệu quả.
          Tư lệnh mặt trận cười:
          - Vẫn cay cú hả? Tôi cũng biết vậy nhưng cần gì phải đem “dao mổ trâu đi làm gà”. Cái bọn tàn quân đang vãi đái ra quần ấy chỉ cần vài khẩu pháo tầm xa, vài đơn vị nhỏ phục kích là được rồi- Ông vỗ vai quyền tư lệnh Đào an ủi- Thôi, cứ yên tâm! Chiến tranh còn dài, các cậu phải bảo toàn và phát triển lực lượng mạnh hơn nữa để tham gia những trận đánh quyết định sau này.
          Biết có nói thế nào đi nữa cũng chẳng lay chuyển được ý định người chỉ huy quyền tư lệnh Đào ra về nhưng vẫn hậm hực lắm.
          Ngày 9 tháng 7 năm 1968 Khe Sanh hoàn toàn được giải phóng, mặt trận Đường Chín- Khe Sanh giải thể, quyền tư lệnh Đào và các cán bộ tăng cường trở về cơ quan.

          Những cơn mưa đầu mùa đã xuất hiện báo hiệu một mùa mưa nữa đang đến gần. Các hoạt động tác chiến lớn trên chiến trường giảm hẳn. Tiểu đoàn xe tăng 198 được lệnh lui ra bắc đường Chín và tạm thời chuyển thuộc cho đoàn 559. Đại đội 9 cũng đã tìm được vị trí trú quân mới tương đối an toàn tại phía nam sân bay A Sầu. Nhiệm vụ chủ yếu của họ trong giai đoạn trước mắt là củng cố trang bị, bảo toàn lực lượng chờ thời cơ mới.

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2017

LỄ TÌNH NHÂN

"Yêu nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua"
Đã yêu, yêu thiết yêu tha
Quanh năm suốt tháng, lúc xa, lúc gần...
Cớ chi đợi Lễ tình nhân
Mỗi năm yêu có một lần thôi sao?


Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng, đại dương, chạng vạng, bầu trời, ngoài trời, thiên nhiên và nước

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2017

BÃO THÉP 2- ÁP THẤP ĐƯỜNG SỐ CHÍN- Kỳ 7


          Trong lúc đó đại đội 9 đã cơ bản hoàn thành việc đào hầm xe, hầm người và các công trình phục vụ sinh hoạt. Tiểu đoàn trưởng Tân cũng đã tổ chức cho đội ngũ cán bộ đi trinh sát đường cơ động xuống Huế và địa bàn xung quanh. Con đường 12 mà mặt trận định đưa đại đội 9 xuống Huế từ phía tây thực tế là không sử dụng được. Là con đường nối giữa miền núi và đống bằng nên địa hình mà nó đi qua vô cùng hiểm trở, hầu như suốt dọc con đường một bên là ta- luy dương cao vút, một bên là vực sâu thăm thẳm. Do bị bỏ hoang lâu ngày không ai tu sửa, lại thường xuyên hứng chịu những cơn mưa rừng dai dẳng của miền tây Huế nên nền đường bị sạt lở nặng nề. Biết là cơ hội để thọc vào Huế sẽ hết sức khó khăn nên Tân quyết định sẽ chọn địa điểm trú quân lâu dài chờ thời cơ vì chỗ tạm trú hiện nay quá gần đường tuyến cũng như sân bay cũ. Tuy nhiên địa hình khu vực A Lưới khá phức tạp, cả hai sườn thung lũng đều bị sông suối bao bọc nên muốn vào trú quân sát chân các dãy núi A Bia hay Động Ngài đều rất khó khăn, nhất là mùa mưa sắp đến. Vì vậy anh quyết định sẽ tranh thủ tìm sâu xuống phía nam.
          Thực hiện ý định này sáng hôm đó Tân gọi đại đội trưởng Nghi và hai trung đội trưởng cùng đi. Mới đi được chừng trăm mét thì nghe tiếng Nghi hét thất thanh:
          - B52 cua rồi!
          Mấy anh em nhìn lên trời. Trên nền trời trong xanh không một gơn mây ba vệt khói trắng đang bay thẳng bỗng cua ngay trên đỉnh đầu các anh. Biết rằng mình sẽ nằm ngoài bãi bom nhưng Tân vẫn hô:
          - Về đơn vị mau!
          Bốn anh em cắm đầu chạy, vừa nhào vào được cái hầm đầu tiên thì những tiếng nổ chát chúa đã dội lại như sấm rền. Đợi cho tiếng bom lặng hẳn Tân trèo lên nóc tháp pháo quan sát: trận bom B52 đánh vào ngọn đồi đối diện với chỗ các anh trú quân, cách chỗ các anh chừng gần hai ki- lô- mét ở góc đông bắc sân bay A Lưới. Cả một vạt rừng non ngả nghiêng, tơi tả, lửa cháy lem lém trên các cành cây khô. Chỗ đó có một đơn vị bộ binh đã đứng chân từ lâu, Tân băn khoăn không hiểu anh em bên ấy có thiệt hại nhiều không? Anh thấy hơi lạ vì mấy hôm nay chủ yếu chúng đánh ở mạn nam sân bay và đường 12, không hiểu tại sao hôm nay nó lại đánh ra đây. Linh tính của người chỉ huy mách bảo anh có một cái gì đó không bình thường sắp xảy ra. Tân gọi Nghi và hai trung đội trưởng lại, anh nói nhỏ:
          - Này các ông, hôm nay ta không đi nữa. Tôi cảm thấy thế nào cũng có chuyện xảy ra.
          Tân vừa dứt lời thì đã nghe tiếng đạn pháo rít trên đầu, cả mấy anh em lại chui vào xe. Trận pháo kích kéo dài hơn mười phút mới dừng, Tân đoán:
          - Khả năng bọn chúng dọn bãi để đổ quân. Bây giờ các trung đội trưởng về ngay trung đội của mình, lệnh cho xe nào về xe ấy, tất cả vũ khí trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Nếu địch đổ bộ vào vị trí trú quân mới nổ súng, nếu không thì cứ án binh bất động. Chú ý quần áo phơi phóng và các đồ dùng phải thu hết vào.
          Chỉ khoảng một phút sau bầu trời như muốn vỡ toác ra bởi một dàn âm thanh cực lớn. Tân và Nghi trèo lên tháp pháo đứng nhìn. Từ phía đông một đàn máy bay đen đặc xuất hiện. Vượt qua dãy Động Ngài chúng bắt đầu sà xuống. Đầu tiên là hai chiếc AD6 nghênh ngang lượn qua lượn lại rồi chúi xuống cắt một loạt bom vào cái vệt loang lổ vừa mới hình thành. Hai thằng AD6 vừa vọt lên thì hai chiếc trực thăng vũ trang nối đuôi nhau lượn vòng tròn trên cái vạt rừng đầy chết chóc ấy. Từ trên máy bay những họng súng khạc lửa, hàng tràng đạn đại liên xối xả như muốn lật tung từng ngọn cỏ, gốc cây. Sau hai ba vòng chúng nới rộng vòng lượn ra xung quanh và tiếp tục xả đại liên. Tiếp đến khoảng hai chục chiếc trực thăng hình thành từng tốp ba chiếc một nối đuôi nhau sà xuống. Sau cùng là hai chiếc “cần cẩu bay” treo lủng lẳng dưới thân một khẩu pháo và mấy cái bọc hình trụ. Tân bảo nhỏ Nghi:
          - Chính xác là chúng đổ quân xuống đấy rồi, mà lại còn chở theo cả lô cốt bê tông thế kia chắc chúng định chốt giữ lâu đấy.
          Từ phía nam cũng vọng lại tiếng bom đạn ùng oàng, Nghi nghển cao đầu nhìn, anh thảng thốt kêu lên:
          - Nó đổ quân cả ở Bốt Đỏ nữa anh ạ!
          Cả hai cùng lặng im suy nghĩ: họ đang rơi vào một tình thế hiểm nghèo. Triệu chứng này là quân địch sẽ đổ bộ với một lực lượng khá lớn, có thể chúng âm mưu chiếm lại thung lũng này để triệt phá lực lượng ta đang đứng chân ở đây chuẩn bị đánh Huế đợt Hai đồng thời ngăn chặn đường tiếp tế về phía nam. Hiện tại các anh đang nằm giữa vòng vây quân địch, cả ở phía bắc, phía nam đều có địch.
          Từ phía đông bắc những tiếng nổ lại rộ lên. Đã nghe rõ tiếng pháo và tiếng súng bộ binh của cả ta lẫn địch. Tân bảo:
          - Chắc chúng đang đánh vào đơn vị bộ binh ở đó. 
          Hai anh em ngồi bệt xuống nóc tháp pháo, Nghi lo lắng hỏi:
          - Bây giờ phải làm thế nào, anh?
          Tân nhăn trán ngồi nghĩ một lúc rồi mới chậm rãi:
          - Theo tôi, trong tình thế này ta đành phải án binh bất động để bảo toàn lực lượng. Trường hợp xấu nhất là bị bọn địch phát hiện ra hoặc đổ quân ngay xuống đầu thì mới nổ súng. Mà nếu đã vậy thì chỉ còn cách đánh đến cùng để mở đường máu thoát về phía bắc. Có lẽ ta sẽ phải lùi sát vào chân núi. Lát nữa anh gọi anh Vĩnh và mấy lái xe đi trinh sát xem có thể men theo suối này vào sâu trong đó được hay không. Ở đây quá gần sân bay, lại gần đường tuyến tôi thấy không ổn.
          Nghi ngồi trầm ngâm suy nghĩ, anh mường tượng ra cảnh các anh phải mở đường máu vượt vòng vây quân địch. Quả thật là khó khăn vì bọn Mỹ đang là người làm chủ trên không, mà cái xe tăng chứ có phải một chiến sĩ bộ binh đâu. Với một khẩu AK trên tay họ có thể chạy vào rừng, lẩn vào những gốc cây, mô đất để ẩn nấp còn các anh cứ phải nghễu nghện chạy trên đường. Dẫu có cao xạ đấy nhưng mười một khẩu 12 ly 7 này ăn thua gì so với hàng đàn trực thăng vũ trang và hàng lũ máy bay phản lực. Vậy thì đúng như tiểu đoàn trưởng Tân đã nói: thượng sách là phải nằm im giữ bí mật đến cùng. Nghĩ đến đây Nghi bảo:
          - Thế thì tôi đi ngay bây giờ!
          Tân gật đầu, Nghi nhảy phắt xuống xe rồi hối hả chạy về phía hầm đại đội phó kỹ thuật Vĩnh. Một lát sau đã thấy anh cùng Vĩnh và Cân đi men theo bờ suối vào phía trong.

           ***

          Hôm nay đến lượt xe 567 đi “cải thiện”. Từ ngày vào A Lưới tiêu chuẩn gạo đã hạ xuống sáu lạng một ngày, thực phẩm trên đảm bảo chỉ có muối và mỳ chính, các thứ khác có thì cấp không thì thôi nên đại đội đã phải tổ chức ăn theo trung đội và cắt phiên nhau ra đi lùng các loại thực phẩm để bù vào, gọi là đi “cải thiện”. Nói là đi tìm thực phẩm nhưng chủ yếu là đi kiếm rau rừng, thôi thì “thượng vàng, hạ cám” có gì ăn được là lính ta khuân về tất. Ven suối thì rau dớn, tàu bay, môn thục, có hôm còn kiếm được cả cá, cua. Đi sâu vào sát chân núi thì có măng tre, hoa chuối rừng. Hôm nào may gặp được cái rẫy của bà con hoặc các đơn vị khác bỏ hoang thì làm một gùi đầy lá khoai lang, lá sắn. Thực ra cũng chẳng ngon lành gì nhưng được cái là no bụng. Vào đây rồi mới thấy ngoài đường Chín dẫu có khổ nhưng vẫn cứ là “thiên đường”. Mà nghe nói đến mùa mưa sẽ còn khó khăn hơn nên đại đội cũng đang có kế hoạch săn tìm thực phẩm để dự trữ.
          Tuy nhiên, khi bộ ba Cân, Thắng, Hòa mới khoác bao tải đi được một quãng thì B52 đến tọa độ. Đã ít nhiều có kinh nghiệm nên ba anh em bảo nhau: “cứ về là hơn, thằng này thì không biết đâu mà lần”. Họ vừa chạy về đến xe thì bọn Mỹ bắt đầu đổ quân, trưởng xe Nhã mừng quýnh:
          - May mà các cậu quay về!
          Hòa thủng thẳng:
          - Có gì mà may?
          Nhã thì thầm ra vẻ quan trọng:
          - Bọn Mỹ đổ quân xuống đây rồi. Đại đội lệnh cho tất cả các xe sẵn sàng chiến đấu. Bây giờ Hòa với Thắng lên chuẩn bị 12 ly 7 đi, còn tớ với Cân sẽ củng cố lại ngụy trang và thu dọn đồ đạc.
          Ngước nhìn những ngọn cây tái sinh mới cao được chừng vài mét Nhã bảo:
          - Theo tớ ta lấy dây níu mấy ngọn cây kia lại với nhau thì kín hơn.
          Cân gật đầu đồng ý, cậu chui vào xe lôi ra cuộn dây thừng kéo xe dưới nước rồi thoăn thoắt trèo lên cây. Hai anh em chằng néo một lúc thì xong. Ngó sang các xe bên cạnh cũng thấy đang thi nhau níu các ngọn cây lại chằng buộc. Nhìn những ngọn cây rủ vào nhau che kín chiếc xe Nhã ưng ý lắm:
          - Thế này thì bố thằng OV10 cũng chả thấy.
          Hòa và Thắng đã mở xong áo khẩu 12 ly 7 và lắp lên đó một hòm đạn, các cậu đang kiểm tra lại khung thước ngắm và quay thử tay tầm, tay hướng. Đúng lúc đó thì đại đội phó kỹ thuật Vĩnh gọi Cân đi trinh sát đường. Còn lại ba người Nhã phân công:
          - Nếu nó đổ quân xuống đầu mình hoặc tấn công vào đây mới được nổ súng. Thắng vẫn phụ trách khẩu 12 ly 7 nhé. Còn bây giờ xuống thu dọn bằng hết các thứ vứt vào gầm xe.
          Nghi, Vĩnh và Cân vừa đi được một lúc thì hai chiếc trực thăng nới rộng vòng lượn. Nhìn cái cách bay của nó Nhã vừa tức vừa phục, lại cũng thấy hơi sờ sợ: đang bay rất nhanh nó có thể đột ngột dừng lại ngó nghiêng, quan sát rồi lại vụt đi. Có lúc nó quay ngoắt đầu lại như làm xiếc. Nghi ngờ chỗ nào nó lại xổ ra một tràng đại liên hoặc phóng xuống một vài quả hỏa tiễn. Đến lúc vòng lượn của nó ra đến tận chỗ đại đội anh đang giấu quân thì Nhã thật sự bối rối. Hình như nó đã sà thấp hơn, gió từ cánh quạt thổi ào ào làm những ngọn cây nghiêng ngả dạt vào nhau làm lộ ra những khoảng trống bên dưới. Thật may các anh đã níu các ngọn cây trên nóc xe lại với nhau nên không bị ảnh hưởng gì. Liếc sang bên cạnh Nhã thấy Thắng đang rê nòng súng theo chiếc máy bay, nét mặt cậu ta căng thẳng đến tột độ. Nhã vội nhắc:
          - Không được bắn đâu đấy!
          Thắng thì thầm:
          - Ngon quá anh ạ! Em nhìn rõ cả đầu thằng lái, chỉ cần một loạt thế nào cũng rơi.
          Nhã nhắc lại:
          - Tôi cấm đấy! Hòa đâu, lên đây thay cho Thắng.
          Thắng rối rít:
          - Thôi được! Em sẽ không bắn đâu. Anh Hòa cứ ở dưới đấy.
          Bên chỗ xe đại đội trưởng Tân cũng đang hết sức lo lắng. Nhìn thằng trực thăng vũ trang đang nghiêng ngó chẳng khác gì “quạ vào chuồng lợn” Tân nghĩ: “bây giờ mà nó phát hiện ra thì chỉ còn cách đánh đến cùng thôi”. Anh biết trên tất cả các xe anh em đều đã ở tư thế sẵn sàng nhưng anh mong điều đó không xảy ra. Nếu điều đó xảy ra cầm chắc mười một chiếc xe này sẽ “tiêu” với chúng nó. Thật may, thêm vài vòng lượn nữa hai chiếc trực thăng vũ trang dông thẳng về phía đông. Mạn chân dãy Động Ngài tiếng súng vẫn lúc thì rộ lên, lúc lại lặng ngắt. Chắc quân ta đang cầm cự và rút dần vào trong núi. Phía nam sân bay bom đạn cũng ùng oàng không dứt.
          Quá trưa Nghi và Vĩnh mới về đến nơi. Tân đang ngồi gặm lương khô và nghe đài, anh ra hiệu cho hai người im lặng: bản tin trưa của đài BBC vừa nhắc đến A Sầu- A Lưới. Hai anh em sà vào ngồi im lắng nghe. Từ chiếc Li Đo cái giọng nghẹt mũi của phát thanh viên đài BBC đang thẽ thọt:
          “ Sáng nay, ngày 11 tháng 4 năm 1968, liên quân Việt-Mỹ tại Vùng 1 Chiến Thuật khởi động cuộc hành quân hỗn hợp mang tên Delaware -phía Hoa Kỳ và Lam Sơn 218- phía VNCH nhằm tảo thanh các đơn vị Cộng Sản Bắc Việt tại thung lũng A Sầu và để tái chiếm tiền đồn A Sầu. Lực lượng tham chiến gồm bốn tiểu đoàn thuộc Sư Ðoàn 1 Bộ Binh Việt Nam cộng hòa và hai lữ đoàn thuộc Quân Ðoàn 24 Hoa Kỳ. Lực lượng này đã đã triển khai đội hình trên một khu vực 60 cây số vuông. Giao tranh đang diễn ra quyết liệt giữa liên quân với các đơn vị cộng sản Bắc Việt.
            Xin nói thêm để quý vị thính giả được rõ: thung lũng A Sầu, địa dư chí tỉnh Thừa Thiên ghi là An Hậu cách biên giới Việt Lào không quá 10 km, cách thành phố Huế hơn 40 km về phía tây. Địa thế tại vùng này rất hiểm trở, mây mù bao phủ quanh năm, hạn chế tầm quan sát của phi cơ khi muốn thám sát trục lộ chuyển quân và vũ khí của Cộng quân. Năm 1966, Bắc Việt đã đánh chiếm thung lũng này sau khi tấn công tiền đồn biên phòng của Lực lượng đặc biệt Việt-Mỹ tại đây. Do không đủ quân số để chiếm lại đồn này, nên Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ tại Vùng 1 và Bộ Tư lệnh Quân Ðoàn 1 Việt Nam Cộng Hòa đã cho các đơn vị trú phòng triệt thoái. Sau đó, Cộng quân đã khởi sự xây dựng căn cứ địa để tập trung các đơn vị Cộng Sản từ Bắc xâm nhập vào khu vực phía tây tỉnh Thừa Thiên.
          Diễn biến chi tiết chiến sự chúng tôi sẽ chuyển đến quý vị thính giả trong các bản tin tiếp theo. Xin kính mời quý vị theo dõi”
          Bản tin chuyển sang các tin tức khác. Cả ba ngồi trầm ngâm không ai nói gì. Tiểu đoàn trưởng Tân là người đầu tiên phá vỡ sự im lặng:
          - Như vậy không chỉ có hai điểm chúng đổ quân mà ta nhìn thấy đâu, chắc chắn là chúng đã đổ xuống tất cả những vị trí quan trọng ở thung lũng này rồi. Kết quả trinh sát của các ông thế nào?
          Nghi ngập ngừng:
          - Có thể đi được vào sát chân núi nhưng khá là khó khăn.
          Tân gặng:
          - Cụ thể hơn xem nào!
          Vĩnh nhỏ nhẹ:
          - Chúng tôi đã xem xét kỹ, việc đi theo bờ suối là không thể, chỉ còn cách đi theo lòng suối nhưng ngặt cái là rất nhiều đá. Không cẩn thận sẽ bị đội bụng hoặc trật xích.
          Tân quả quyết:
          - Nó đổ quân như vậy dứt khoát là không nằm đây được, nhất định phải đi vào sâu hơn. Nếu chỉ có vậy thì chiều nay huy động tất cả đơn vị đi dọn đá để tối nay di chuyển. Các anh thấy thế có được không?
          Có lẽ cũng chẳng còn cách nào nên hai cán bộ đại đội gật đầu:
          - Được ạ!
          Tân quyết định:
          - Thế thì ăn trưa rồi đi nghỉ một lát. Hôm nay không nấu nướng gì được, ăn lương khô thôi.

          Suốt buổi chiều phá đá mở đường và một đêm trầy trật đại đội 9 đã di chuyển vào sát chân dãy A Bia. Ở đây địa hình rất dốc lại nhiều đá nên các xe phải giấu tạm ngay bên bờ suối. Nhìn mười một cái xe tăng nằm rải rác theo bờ suối tiểu đoàn trưởng Tân thấy lo lo: “nếu cứ thế này kéo dài đến mùa mưa thì không ổn, nước lũ dâng lên thì biết chạy đi đâu? Dứt khoát sẽ phải tìm chỗ khác để trú quân ổn định, lâu dài”. Nhưng trước mắt thì cứ phải nín thở nằm im ở đây đã.