Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2017

BÃO THÉP 1- CƠN LỐC ĐẦU MÙA- Kỳ 22


Nằm cách biên giới Việt- Lào chừng 10 ki- lô- mét, kẹp giữa con đường số Chín ở phía Bắc và dòng sông Sê- Pôn thơ mộng ở phía Nam Huội San vốn là một bản của người dân Lào từ lâu lắm rồi. Có thể nói trên suốt chiều dài hàng trăm ki- lô- mét của dòng sông Sê- Pôn thì đây là nơi bằng phẳng nhất. Những ngọn đồi thấp nằm xen với những cánh đồng lúa nước cùng với những lũy tre dày làm cho Huội San khá giống với một làng trung du Bắc Bộ. Con sông Sê- Pôn sau khi thỏa sức vùng vẫy giữa các triền núi cao của Trường Sơn đến đoạn này trở nên hiền hòa hơn như đã thấm mệt. Dòng sông không bao giờ cạn vừa là nguồn nước dồi dào tưới tắm cho những cánh đồng và cũng là nguồn cung cấp cá tôm vô tận cho dân bản. Huội San lại có đường Chín chạy qua, việc thông thương với các vùng miền trong nước cũng như với phía Việt Nam hết sức thuận tiện đã làm cho nơi này trở thành giàu có, trù phú bậc nhất cả vùng. Nhưng đó chỉ là quá khứ.
Vào đầu những năm 60, sau khi lật đổ Chính phủ liên hiệp của Vương quốc Lào Mỹ đã dựng Phủi Xa-na-ni-con lên làm thủ tướng. Hơn 5000 cố vấn Mỹ được đưa vào Lào để tiêu diệt “họa cộng sản” đồng thời chống phá cách mạng Việt Nam và chặn đứng nguồn tiếp tế từ miền Bắc sang Lào cũng như vào chiến trường miền Nam. Một trong những con bài được chúng sử dụng chính là Vàng Pao cùng đội quân thổ phỉ của hắn. Để thực hiện âm mưu của mình dọc theo biên giới Lào- Việt Vàng Pao đã cho xây dựng 68 căn cứ, đồn bốt và một số cụm phỉ cơ động. Từ các căn cứ này chúng tăng cường các hoạt động chống phá cách mạng Lào và xâm phạm lãnh thổ Việt Nam. Với lợi thế về mặt địa lý Huội San cũng được chọn làm một trong những căn cứ đó. Không chịu được sự quấy nhiễu của đám thổ phỉ người dân Huội San đành rời bỏ quê hương bản quán lánh về những vùng núi xa xôi. Bản Huội San trù phú bị bỏ hoang từ đó.
Nhằm triệt phá các hoạt động của Vàng Pao, bảo vệ vững chắc an ninh biên giới và hỗ trợ cho cách mạng Lào năm 1961 quân tình nguyện Việt nam phối hợp với bộ đội Pa- thét Lào đã tiến công xóa sổ căn cứ phỉ ở Huội San. Tuy nhiên sau đó khu vực này vẫn nằm trong quyền kiểm soát của chính quyền ngụy Lào và do một tiểu đoàn quân ngụy Lào đồn trú. Do vị trí xung yếu của mình Huội San được xây dựng thành một cụm cứ điểm với 12 cứ điểm nhỏ nằm rải rác dọc theo hai bên đường Chín, trong đó Tà Mây là cứ điểm quan trọng nhất và sở chỉ huy tiểu đoàn được đặt ở đây.
So với các cứ điểm khác trong cụm cứ điểm này thì Tà Mây có độ cao lớn nhất. Nằm giữa một vùng đồng bằng và đồi thấp với độ cao 239 mét so với mực nước biển Tà Mây đột khởi hẳn lên và có tầm kiểm soát khá rộng. Nó lại nằm sát đường Chín về phía bắc nên có khả năng khống chế mọi hoạt động trên con đường chiến lược này. Có thể nói đó là một cửa ải bắt buộc phải vượt qua nếu muốn đưa lực lượng cơ giới theo đường Chín tiến về phía Đông. Với vị trí có tầm quan trọng chiến lược như vậy Huội San nói chung và đặc biệt là Tà Mây được xây dựng khá kiên cố, bên ngoài các cứ điểm đều có hai đến ba hàng rào dây thép gai xen kẽ với các loại mìn. Hệ thống công sự cũng được xây dựng tương đối vững chắc bằng bao cát và gỗ súc. Đặc biệt hỏa lực tự thân của cụm cứ điểm Huội San khá mạnh, lại được sự chi viện đắc lực của không quân và pháo binh Mỹ từ Khe Sanh, Cồn Tiên vào bất cứ lúc nào. Chính vì vậy Bộ tư lệnh mặt trận đã quyết định phải tăng cường xe tăng cho bộ binh để phá tan bằng được “cửa ải” này.

***

Có lẽ những người vui mừng nhất trước quyết định này là ban chỉ huy của trung đoàn bộ binh 24. Họ cũng vừa mới hành quân từ Bắc vào tăng cường cho mặt trận Đường Chín- Khe Sanh. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ đều còn trẻ, kinh nghiệm trận mạc chưa có gì nên không có gì khó hiểu khi họ hết sức phấn khởi khi có xe tăng cùng xung trận. Vì vậy khi thấy hai cán bộ đoàn 198 xuất hiện cả ban chỉ huy trung đoàn đều tiếp đón rất niềm nở và trọng thị.
Buổi làm việc giữa hai đơn vị diễn ra rất khẩn trương bên tấm bản đồ khu vực. Điều phấn khởi nhất mà hai cán bộ xe tăng được thông báo là qua vài lần trinh sát anh em bộ binh đã phát hiện ra xung quanh các cứ điểm đều bố trí mìn dày đặc nhưng chỉ có mìn chống bộ binh và không có mìn chống tăng. Hai bên đã thống nhất xác định được mục tiêu chủ yếu của trận đánh là cứ điểm Tà Mây và vị trí tập kết của đại đội 3 tại một bản có cái tên hơi lạ: Cha- ki- phìn. Về cách đánh sẽ cho bộ binh bí mật chiếm lĩnh trận địa xuất phát xung phong trước, còn xe tăng cũng từ vị trí tập kết bí mật tiếp cận mục tiêu càng gần càng tốt. Khi pháo bắn chuẩn bị bộ binh sẽ mở cửa cho xe tăng, còn xe tăng sẽ tăng tốc độ triển khai đội hình, phát huy hỏa lực tiêu diệt mục tiêu đầu cầu rồi nhanh chóng xung phong dẫn dắt bộ binh đánh chiếm mục tiêu bên trong. Rất may là khi còn ở ngoài bắc đơn vị này cũng đã có dịp diễn tập hiệp đồng với xe tăng nên anh em cũng không bỡ ngỡ lắm. Điều duy nhất làm hai cán bộ xe tăng thấy phân vân là đoạn đường Chín từ vị trí tập kết của đại đội 3 đến Huội San chất lượng rất xấu vì bị bỏ hoang đã lâu ngày, hầu hết các cây cầu trên đường đều đã bị phá nên chắc chắn việc cơ động rất khó khăn. Vì vậy ngay sau khi kết thúc buổi hiệp đồng Lãm và Phúc đã vội vã xin phép chia tay mặc dù ban chỉ huy trung đoàn 24 đã rất nhiệt tình chèo kéo hai người ở lại nghỉ ngơi cho đỡ mệt. Trước lúc lên đường Lãm còn dặn với:
- Ngay sau đây chúng tôi sẽ cơ động đại đội 3 lên vị trí tập kết. Khi xe tăng đến đó chúng tôi sẽ cho anh em cán bộ đến gặp các anh ngay. Đề nghị các anh cho trinh sát dẫn đường cho anh em xe tăng trinh sát đường cơ động đến sát Tà Mây. Tôi nghĩ rằng đó sẽ là vấn đề cốt lõi của trận đánh này đấy! Còn chúng ta sẽ hiệp đồng lần cuối cùng trước giờ nổ súng theo quy định của mặt trận.

***

Trong lúc đoàn trưởng Lãm và đoàn phó Phúc làm việc ở trung đoàn bộ binh 24 thì tiểu đoàn trưởng Tân cũng đã có mặt tại trung đoàn công binh 7. Do đã nắm được nhiệm vụ, lại được Tân cung cấp sơ bộ tình hình trên cả hai hướng tây và nam nên trung đoàn trưởng công binh đã nhanh chóng phác thảo kế hoạch bảo đảm cơ động cho xe tăng của đơn vị mình. Gọi thêm mấy sĩ quan tham mưu tới hầm của mình, trung đoàn trưởng công binh trải rộng tấm bản đồ địa hình khu vực trên bàn và trình bày rất ngắn gọn:
- Căn cứ vào cung cấp tình hình của đồng chí và một số nội dung chúng tôi đã nắm được thì theo tính toán của chúng tôi khối lượng công việc ở hướng nam là rất lớn. Chúng ta phải mở khoảng 15 ki- lô- mét đường bộ từ Ha- Sin- Ta- Sing đến Pê- Sai và mở thông 6 ki- lô- mét đường sông từ Pê- Sai tới Làng Troài. Trong khi đó lực lượng của chúng tôi chỉ còn hai tiểu đoàn. Vì vậy tôi dự kiến sẽ chỉ để lại một đại đội để bảo đảm cho hướng tây, còn bao nhiêu sẽ dồn hết về hướng nam. Anh thấy thế có được không?.
Tiểu đoàn trưởng Tân ngẫm nghĩ một lát rồi mới chậm rãi:
- Tôi hoàn toàn nhất trí với đánh giá tình hình của các anh. Tuy nhiên đề nghị các anh lưu ý cho một điều: theo chỗ chúng tôi biết chất lượng đường Chín từ chỗ chúng tôi đến Huội San rất xấu, hầu hết các cầu đều đã bị phá hủy mà chỉ còn gần một tuần nữa đã nổ súng, nếu lực lượng bảo đảm mỏng quá e rằng không kịp. Còn ở hướng nam tuy khối lượng công việc lớn nhưng chúng ta còn nhiều thời gian. Vì vậy đề nghị các anh nghiên cứu thêm. Theo tôi giai đoạn đầu các anh nên để hẳn một tiểu đoàn ở hướng tây, sau khi đã khắc phục cơ bản đường cho xe tăng cơ động hãy dồn xuống hướng nam. Làm như vậy sẽ đảm bảo chắc chắn hơn.
Cúi xuống tấm bản đồ soi mói nhìn vào đoạn đường Chín phía tây Huội San một lát trung đoàn trưởng công binh gật đầu:
- Anh nói rất có lý! Tôi đồng ý với ý kiến của anh. Trước mắt chúng tôi sẽ cho một tiểu đoàn khắc phục ngay đoạn đường Chín này. Sau khi cơ bản xong sẽ để lại một đại đội để bảo đảm cho các anh trong quá trình chiến đấu và bảo đảm cơ động về Làng Vây sau này.
Tân vẫn có vẻ chưa yên tâm:
- Thực ra về nền đường thì không có gì lớn lắm mà tôi thấy gay go nhất là mấy chiếc cầu. Bây giờ mà bắc cầu chắc chúng ta không đủ khả năng, vậy các anh định thế nào?
Trung đoàn trưởng công binh cười:
- Anh cứ yên tâm! Đó là nghề của chúng tôi mà. Tuy nhiên đề nghị anh cho một số cán bộ đến trực tiếp làm việc cùng chúng tôi thì sẽ bảo đảm hơn.
Có vẻ đã yên tâm hơn Tân vội chia tay và quay ngay về đơn vị.

***

Công việc chuẩn bị cho trận tiến công Huội San của trung đoàn bộ binh 24 và đại đội xe tăng 3 không mấy thuận lợi.. Đã hai lần đoàn cán bộ của xe tăng được bộ binh đưa đi trinh sát đều phải quay ra sớm vì đụng phải biệt kích nên chỉ quan sát được từ xa. Việc khắc phục cầu đường cũng rất khó khăn. Đặc biệt sau khi ta tiến công chi khu quân sự Hướng Hóa hoạt động của không quân địch và các toán biệt kích tuần tiễu được tăng cường gấp bội. Hàng ngày hai chiếc OV10 thay nhau soi mói dọc theo đường Chín, bất kỳ chỗ nào nghi ngờ là chúng gọi phản lực đến đánh ngay. Các trận tọa độ B52 cũng dày hơn nhất là phía bắc các cứ điểm Khe Sanh, Tà Cơn, Làng Vây... Công việc khắc phục cầu đường của tiểu đoàn công binh vì vậy phải chuyển sang làm đêm nên tiến độ rất chậm.
Từ vị trí tập kết của đại đội tăng 3 đến Huội San có 7 cây cầu lớn và một số cây cầu nhỏ đều đã bị phá sập, một số đoạn đường bị sạt lở nặng. Để khắc phục công binh buộc phải mở đường tránh và làm ngầm cho xe tăng qua. Tuy nhiên do không khai thác được đá hộc nên vật liệu làm ngầm chủ yếu là cây cối. Những bó thân cây, cành cây và cả lau lách được anh em công binh tập kết sẵn hai đầu ngầm đến tối mới đem ra vùi xuống thành đường. Làm đến gần sáng lại phải ngụy trang đề phòng ban ngày máy bay địch phát hiện ra.
Được tiểu đoàn cử đi làm cố vấn cho bên công binh đại đội phó kỹ thuật Minh đã lăn lộn với tiểu đoàn công binh này gần cả tuần nay. Suốt đêm anh như con thoi đi từ ngầm này sang ngầm khác để góp ý, chỉ đạo. Ban ngày thì lại đi kiểm tra, có vấn đề gì chưa đạt yêu cầu sẽ đề nghị bên công binh khắc phục ngay. Đã cuối tháng Chạp ta, trời se se lạnh mà mồ hôi lúc nào cũng đẫm lưng áo anh. Được cái anh em công binh làm rất tích cực và có trách nhiệm nên chỉ sau ba ngày đêm đã cơ bản hoàn thành được 6 ngầm lớn và hầu hết các ngầm nhỏ với chất lượng chấp nhận được. Các đoạn đường bị sạt lở cũng đã được khắc phục xong. Tuy nhiên chỉ còn mỗi cái ngầm qua con suối Huổi Lau cả Minh lẫn tiểu đoàn trưởng công binh đều lúng túng chưa biết xử trí thế nào. Từ đó về Tà Mây chỉ chưa đầy 2 ki- lô- mét, bọn địch vẫn thường xuyên tuần tiễu ra đến tận đấy nên không thể bố trí cho bộ đội làm ngay được. Đứng trên đỉnh một ngọn đồi cao phía nam đường nhìn sang thỉnh thoảng lại thấy thấp thoáng bóng bọn ngụy Lào nghênh ngang đi ra tận đầu cây cầu sập ngó nghiêng, có thằng ngứa tay còn lia mấy loạt đạn vu vơ sang bờ tây Minh bàn với tiểu đoàn trưởng công binh:
- Tình hình này có khi ta phải đợi đến sát giờ nổ súng mới làm được anh ạ!
Tiểu đoàn trưởng công binh gật đầu:
- Tôi cũng nghĩ vậy! Chúng tôi sẽ cho anh em chuẩn bị sẵn vật liệu tập kết ở gần đấy. Đợi đến sát giờ nổ súng mới tập trung lực lượng xuống làm thật nhanh. Anh cứ yên tâm! Tôi tin rằng sẽ làm kịp trước khi các anh cơ động đến đây.
Thấy cũng chẳng còn cách nào khác Minh chấp nhận:
- Tôi đồng ý! Tuy nhiên tôi đề nghị anh phải cho bộ đội kiểm tra thêm một lần nữa các điểm ta đã làm. Đối với xe tăng chúng tôi vấn đề cơ động kịp thời đến mục tiêu là quan trọng bậc nhất đấy.
Người tiểu đoàn trưởng công binh mỉm cười:
- Anh cứ yên tâm! Chúng tôi xin đảm bảo với các anh sẽ hoàn thành kịp thời gian quy định.
Hai người bắt tay nhau và chia tay.

***

Ngay sau khi ổn định vị trí trú quân mới ở Ha Sin- Ta Sinh đại đội trưởng Nghi đã tổ chức cho đi trinh sát đường cơ động theo chỉ thị của tham mưu trưởng Dương. Đích thân anh cùng đại đội phó kỹ thuật Vĩnh và một số cán bộ đã khảo sát kỹ con đường bộ từ nơi trú quân mới đến bờ tây sông Sê- Pôn và ghi chép cẩn thận những đoạn cần khắc phục vào bản đồ. Riêng đoạn đường sông đoàn mới chỉ đi trên bờ và khảo sát sơ bộ.
Khi Nam- tiểu đoàn trưởng công binh được Nghi trao cho tấm sơ đồ rất tỷ mỷ anh mừng rỡ:
- Tốt quá! Như thế này ta sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian. Tối nay tôi sẽ triển khai nhiệm vụ cho các đại đội và ngay ngày mai có thể bắt đầu công việc được rồi. Để tranh thủ thời gian cũng ngay ngày mai chúng tôi bắt đầu trinh sát đoạn đường sông. Tôi đề nghị các anh cử một số cán bộ đi cùng chúng tôi để kiểm tra khả năng lưu thông của xe tăng trên sông cho chính xác.
Đại đội trưởng Nghi tham gia:
- Chúng tôi hoàn toàn nhất trí và sẽ cử người theo yêu cầu của các anh. Tuy nhiên tôi chỉ xin lưu ý các anh một điều: dù làm gì thì vấn đề giữ bí mật phải được đặt lên hàng đầu.
Đã hiểu rõ tầm quan trọng của hướng này nên Nam gật đầu:
- Các anh cứ yên tâm! Đoạn đường trên bộ này tôi sẽ yêu cầu anh em làm đến đâu ngụy trang đến đó, đảm bảo địch từ trên không không thể phát hiện ra. Còn việc đi trinh sát trên sông tôi dự định sẽ làm mấy cái mảng nứa và đóng giả làm người dân đi đánh cá trên sông. Riêng đoạn gần Làng Troài thì buộc phải trinh sát ban đêm. Anh nhớ cử anh nào gầy gầy, đen đen ấy nhé. Cử mấy ông béo tốt, trắng trẻo đi thì khác gì “lạy ông tôi ở bụi này”. Còn bây giờ tôi phải về để triển khai công việc cho anh em các đại đội. Hẹn các anh sáu giờ sáng mai ta sẽ lên đường.
Tiễn người tiểu đoàn trưởng công binh về Nghi còn đứng nhìn theo mãi. Anh biết rằng sự thành công của đại đội anh trong trận đánh này sẽ phụ thuộc rất nhiều vào người anh em này.

***

Mãi đến gần trưa hôm sau nhóm trinh sát lòng sông Sê- Pôn mới tới được bờ sông phía tây. Ý định của tiểu đoàn trưởng Nam có vẻ gặp khó khăn vì hai bên bờ sông có khá nhiều tre nhưng là loại tre nhỏ và đặc nên không làm mảng được. Thấy vậy đại đội phó Vĩnh- anh và Hòa đen được đại đội trưởng Nghi cử đi trinh sát cùng công binh- góp ý:
- Ở đồi Pê Sai bên kia sông có một đơn vị bộ binh đã đứng chân ở đây từ trước. Có lẽ ta nên sang bên ấy nhờ các đồng chí ấy giúp đỡ.
Thấy cũng chẳng có cách nào hơn Nam đành đồng ý. Cả nhóm lò mò tìm cách vượt sông sang bờ bên kia. Vừa mới lóp ngóp từ dưới sông lên họ đã xanh mặt khi nhìn thấy mấy họng AK đang chĩa thẳng vào mình. Chỉ khi nhận ra đúng là đồng đội những khẩu súng mới hạ xuống. Họ được đưa vào gặp chỉ huy đơn vị. Sau khi nghe Nam trình bày ý định và đề nghị giúp đỡ người chỉ huy bộ binh nói:
- Về ý định đi trinh sát lòng sông của các anh theo tôi ta nên liên hệ nhờ bà con ở đây giúp đỡ. Từ hôm về đây thỉnh thoảng chúng tôi vẫn thấy bà con dùng thuyền độc mộc và mảng nứa đánh cá trên sông. Nếu các anh đồng ý tôi sẽ cho người dẫn các anh vào bản gặp các đồng chí xã đội để nhờ giúp đỡ.
Đại đội phó Vĩnh tỏ ra lo lắng:
- Như thế liệu có đảm bảo bí mật được không?
Người chỉ huy bộ binh cười rõ tươi:
- Các anh cứ yên tâm! Đồng bào ở đây toàn là người Vân Kiều. Cả dân tộc đã lấy họ của Bác Hồ làm họ của mình nên quyết tâm theo cách mạng đến cùng.
Tiểu đoàn trưởng Nam phấn khởi ra mặt:
- Thế thì tốt rồi! Nhưng còn tình hình hoạt động của bọn địch ở khu vực này thế nào cũng xin anh cho biết luôn.
Người chỉ huy bộ binh giở tấm bản đồ khu vực ra và chỉ:
- Nhìn chung ở hướng này địch hoạt động không mạnh lắm. Chắc là do địa hình phức tạp nên chúng có phần chủ quan. Trên không thỉnh thoảng OV10 đến nhòm ngó. Còn dưới đất bọn biệt kích chủ yếu tuần tiễu đến khu vực Làng Troài thôi, chưa thấy khi nào chúng vượt qua sông và con suối Pe Rang này. Có nghi ngờ gì đó chúng cũng gọi pháo bắn vài loạt hoặc gọi phản lực đến thả vài loạt bom rồi thôi. Tuy nhiên theo tôi các anh chỉ nên đi trinh sát ban ngày đoạn trên này thôi- Anh chỉ tay vào một điểm trên bản đồ-  Còn từ Vực Tang trở xuống thì bắt buộc phải đi ban đêm.
Cả nhóm cán bộ chăm chú nhìn vào tấm bản đồ, vẻ mặt người nào người nấy tỏ ra rất lo lắng. Thấy vậy người chỉ huy bộ binh trấn an:
- Cũng xin nói thêm thế này để các anh yên tâm: hiện nay chúng tôi vẫn có một số tổ trinh sát bám địch ở khu vực Làng Troài và Pe Rang. Chúng tôi sẽ thông báo cho anh em cảnh giới và sẵn sàng bảo vệ các anh khi có tình huống xảy ra.
Ngẫm nghĩ một lát Nam nói:
- Vậy thì đề nghị anh cho anh em dẫn chúng tôi vào gặp bà con Vân Kiều luôn. Chúng tôi muốn bắt đầu càng sớm càng tốt.
Người chỉ huy bộ binh gật đầu:
- Được! Đây là địa bàn xã Thuận. Tôi sẽ cho người đưa các anh đến gặp đồng chí xã đội trưởng. Có yêu cầu gì các anh trực tiếp trao đổi với đồng chí ấy!


XE TĂNG HIỆN ĐẠI LỘI NGẦM THẾ NÀO?

Xe tăng T-54 tới T-90 đi ngầm dưới nước thế nào?

Các xe tăng được chế tạo từ nửa cuối thế kỷ 20 đến nay như T-54B, T-55,... hay T-80 và T-90 vẫn có thể vượt các con sông sâu đến 5 mét và chiều rộng không quá 700 mét.

Để làm được điều đó, các dòng xe tăng này phải dựa vào một thứ rất đặc biệt. Đó là Bộ thiết bị lội ngầm.
Bộ thiết bị lội ngầm gồm những gì?
Ống cung cấp không khí: Được lắp vào vị trí kính quan sát của chiến sĩ nạp đạn, có tác dụng cung cấp không khí cho người và động cơ xe tăng hoạt động.
Van ống xả: Là loại van một chiều lắp vào miệng cửa xả của động cơ có tác dụng chỉ cho khí xả động cơ đi qua và ngăn nước vào động cơ.
Các thiết bị làm kín: bao gồm vải bạt, vòng cao su, gioăng, đệm v.v... để bịt kín các cửa, lỗ, khe hở trên thân xe, tháp pháo nhằm ngăn nước chảy vào xe và không khí lọt ra ngoài.
Máy bơm nước: Dùng để bơm nước bị rò rỉ vào xe ra ngoài.
Máy dẫn đường: Thường dùng kiểu con quay, có tác dụng giữ hướng vận động cho xe khi không quan sát được đường. Công tắc ngực loại có dây dài để lái xe liên lạc với bên ngoài.
Áo bơi và mặt nạ: Trang bị cho các thành viên sử dụng trong tình huống xe bị chết máy dưới nước.
Ngoài ra, để phục vụ cho huấn luyện còn có ống ra vào: Ống được lắp vào cửa nạp đạn, có đường kính lớn và bậc lên xuống để các thành viên có thể leo ra vào xe.
Quá trình chuẩn bị, lắp ráp thiết bị cho xe tăng lội ngầm mất khoảng 30 phút. Sau khi lắp xong phải tiến hành thử độ làm kín của xe.

Xe tăng T-90 vừa kết thúc đoạn đi ngầm và bò lên mặt đất.
Xe tăng T-90 vừa kết thúc đoạn đi ngầm và bò lên mặt đất.
Phương pháp thử thông dụng nhất là ngâm xe ở các độ sâu khác nhau cho đến độ sâu tối đa 5 mét. Khi phát hiện sự rò rỉ phải lập tức khắc phục ngay.
Sau khi lắp đặt, kiểm tra xong lái xe sẽ dóng hướng chuẩn từ trên bờ, khởi động và điều chỉnh máy dẫn đường và từ khi xuống nước sẽ căn cứ vào máy dẫn đường để lái.
Khi lội ngầm chỉ được cho xe đi số 1 với vòng quay động cơ từ 1.500 đến 1.700 vòng/ phút, đồng thời thường xuyên giữ liên lạc với chỉ huy trên bờ và thực hiện mọi mệnh lệnh của chỉ huy.

Một chiếc xe tăng T-80 của Nga đang vượt sông.
Một chiếc xe tăng T-80 của Nga đang vượt sông.
Xe chết máy kíp lái xử trí thế nào?
Trong trường hợp xe bị “chết máy” không khởi động lại được hoặc gặp sự cố không thể khắc phục các thành viên trong xe phải hết sức bình tĩnh, đeo mặt nạ rồi tháo nước vào xe cho đến khi nước vào đầy xe mới mở cửa và thoát ra ngoài.
Sở dĩ là do khi còn không khí trong xe sẽ không thể mở được cửa do áp lực của nước.
Vì đây là một nội dung hoạt động khá phức tạp, nhiều rủi ro và nguy hiểm nên khi tổ chức lội ngầm cần phải chú ý một số điểm sau:
Trước hết, cần phải kiểm tra chất lượng đường lội ngầm dưới đáy sông có đảm bảo cho xe tăng vượt qua được hay không? Trên cơ sở đó quyết định có cho lội ngầm hay không hoặc phải có biện pháp khắc phục.
Thứ hai, là phải huấn luyện thật thành thục kỹ năng lái xe vượt ngầm cho lái xe cũng như các thành phần khác như chỉ huy, bảo đảm... để giảm thiểu đến mức thấp nhất các sự cố xẩy ra. Khi tình huống xảy ra phải bình tĩnh xử trí theo quy trình, quy tắc đã được học.
Thứ ba, để tổ chức lội ngầm cần phải có kế hoạch thật chặt chẽ, khoa học và được luyện tập, diễn tập thường xuyên. Đồng thời phải chú ý đầy đủ đến công tác bảo đảm các mặt - nhất là bảo đảm an toàn, cứu hộ - cứu nạn.

BÃO THÉP 1- CƠN LỐC ĐẦU MÙA- Kỳ 21


Mặc dù số lượng khí tài được chi viện chưa đáp ứng được một trăm phần trăm nhu cầu song cũng đã làm cho đại đội 9 như được tái sinh. Phấn khởi nhất là đại đội phó kỹ thuật Vĩnh. Trên cơ sở kiểm tra thực trạng của từng xe anh đã lên một bản kế hoạch phân phối khí tài rất chi tiết và duy trì một cách nghiêm ngặt. Bỏ ngoài tai mọi lời kỳ kèo xin xỏ hay bực tức châm chọc Vĩnh cứ một mực: “chỉ có thế thôi, liều liệu mà dùng”.
Xe 567 của Nhã cũng nằm trong tình trạng chung của đại đội. Khi biết tin có khí tài bổ sung Nhã đã phái ngay Cân lên trinh sát và cũng thầm mong dựa vào sự thân mật, tin tưởng của đại phó Vĩnh với Cân sẽ kiếm thêm được tý chút. Tuy vậy âm mưu ấy đã không thành công, xe vẫn chỉ nhận được đúng khẩu phần đã tính toán không hơn không kém một mắt xích. Cân an ủi mọi người:
- Thế cũng là tốt lắm rồi. Còn bây giờ thì phải cắt xích ra kiểm tra từng mắt một. Mắt nào còn dùng được thì phải tận dụng chứ chừng này cũng chỉ như muối bỏ bể thôi. Bánh chịu nặng cũng chỉ ưu tiên cái số 1 và cái số 6, còn mấy cái nằm ở giữa thì cứ để chạy tạm cũng được.
Mặc cho thằng OV10 vẫn vè vè nhòm ngó trên trời và tiếng bom ùng oàng ngoài đường tuyến công việc khôi phục xe cộ được tiến hành một cách khẩn trương. Xe nào xe ấy cứ chí cha, chí chát như một công xưởng. Ở xe 567 Nhã phân công Hòa cùng anh chịu trách nhiệm tháo rời từng mắt xích, còn Cân và Thắng gõ sạch đất và kiểm tra từng mắt một. Vừa tỷ mẩn cậy đất Thắng vừa lẩm bẩm:
- Hầu như mắt xích nào cũng bị rạn cả anh Cân ạ!
Cân xác nhận:
- Đúng thế! Nhưng đứng có vứt đi vội. Cứ xếp vào đấy có khi vẫn còn dùng đến đấy!
Nhìn đống mắt xích bị rạn và gãy vú ngày một cao lên Cân xót ruột quá, anh đứng bần thần ngắm nghía một lúc rồi ngồi thụp xuống nhặt mấy mắt xích gãy vú ra  xếp đi xếp lại trên mặt đất. Nhã, Hòa, Thắng cũng dừng tay nhìn vẻ bần thần của Cân. Đột nhiên Cân nhảy cẫng lên, miệng hét:
- Ơ- rê- ca!
Đúng lúc đó đại đội phó kỹ thuật Vĩnh có mặt. Anh hài hước:
- Cậu làm gì mà như Ác- si- mét tìm ra định luật mới thế?
Cân vừa sắp xếp lại các mảnh xích vừa liến thoắng:
- Cũng gần như thế ạ! “Đại phó” xem thế này có được không nhé: những mắt xích gãy một vú ở băng xích bên này ta đổi sang bên kia, bên kia lại đổi sang bên này, cứ xen kẽ một mắt gãy vú trái với một mắt gãy vú phải. Như thế là vẫn đảm bảo dẫn hướng được cho bánh chịu nặng. “Đại phó” thấy thế nào?
Mắt đại đội phó Vĩnh sáng hẳn lên:
- Cậu này khá! Có thể coi đây là một sáng kiến hay đấy. Các cậu cứ làm thế đi! Tớ sẽ đi phổ biến sáng kiến này trong toàn đại đội.
Mất ba ngày cật lực hệ thống vận hành của toàn đại đội đã được củng cố đạt mức “tàm tạm” theo nhận định của đại đội phó kỹ thuật Vĩnh. Đúng lúc đó thì đoàn của tham mưu trưởng Dương đến. Vừa tay bắt mặt mừng Vĩnh đã rối rít cảm ơn sự quan tâm của thủ trưởng cấp trên đã chi viện kịp thời cho đơn vị. Tham mưu trưởng Dương chỉ vào tiểu đoàn trưởng Tân:
- Có cảm ơn thì cảm ơn cậu Tân đây này! Không có cậu ấy lần mò khắp các kho của 559 thì còn lâu mới có chi viện.
Tân cười ngượng nghịu:
- Có gì đâu mà cảm ơn. Không có các thủ trưởng Bộ tư lệnh nhanh chóng đưa vào thì có tìm cả năm cũng chẳng thấy.
Tham mưu trưởng Dương yêu cầu đại đội báo cáo tình hình. Đại đội trưởng Nghi lập tức tuôn ngay một tràng:
- Báo cáo thủ trưởng! Khó khăn lớn nhất của chúng tôi là tình trạng kỹ thuật của thiết bị vận hành thì nay nhờ sự chi viện của cấp trên đã khắc phục được phần nào. Còn các vấn đề khác thì không có gì đặc biệt, cán bộ chiến sĩ vẫn vững vàng và luôn sẵn sàng chiến đấu- Ngần ngừ một lát như đắn đo điều gì đó rồi Nghi tiếp- Có một vấn đề đề nghị thủ trưởng nghiên cứu xem có thể cho chúng tôi di chuyển đi vị trí khác được không. Ở đây gần ngã ba Mường Noòng quá, không quân địch cứ đánh phá suốt, mặc dù chưa lần nào chúng tôi “dính” nhưng theo tôi di chuyển đi chỗ khác vẫn hơn.
Tham mưu trưởng Dương bảo Tân giở bản đồ ra. Thực ra trên đường đi từ Pê Sai về đây ông đã ngắm nghía và rất ưng ý một vị trí. Nếu đưa đại đội 9 vào đó thì vừa tránh được trọng điểm Mường Noòng, lại vừa tiện cơ động về Pê Sai khi ý định sử dụng xe tăng ở hướng nam được phê chuẩn.
Vẫy mấy cán bộ đại đội lại xung quanh tấm bản đồ tham mưu trưởng Dương chậm rãi:
- Vừa qua chúng tôi đã đi trinh sát phía nam Làng Vây và đã quyết tâm đưa đại đội các đồng chí vào tham gia tiến công Làng Vây từ hướng nam. Sơ bộ như thế này- Ông rê ngón tay theo cái vệt xanh nhạt trên bản đồ- Chúng ta sẽ lợi dụng dòng sông Sê Pôn để cơ động từ Pê Sai đến Làng Troài, từ đây sẽ cùng bộ binh triển khai đội hình và đánh địch từ phía nam. Quyết định hay không thì còn phải chờ ý kiến của trên nhưng theo tôi chắc là trên sẽ đồng ý thôi. Bây giờ tôi quyết định thế này, trước mắt các đồng chí cho đại đội cơ động đến Ha Sin Ta Sinh. Tại đó tiếp tục làm công tác chuẩn bị và trinh sát đường cơ động đến Pê Sai, xác định cụ thể những chỗ cần khắc phục. Khi nào trên chính thức phê chuẩn sẽ có công binh đến làm việc cùng các đồng chí.
Cả mấy cặp mắt cùng sáng lên. Đại đội trưởng Nghi đưa cả hai tay nắm lấy tay tham mưu trưởng:
- Cảm ơn thủ trưởng đã cho chúng tôi “công ăn, việc làm”.
Tham mưu trưởng Dương cười:
- Thế thì chuẩn bị mà làm cho thật tốt nhé!
Chiều hôm sau khi đại đội 9 chuẩn bị cơ động thì ba thày trò ông Dương cũng lên đường. Họ không về đoàn bộ 198 mà đi thẳng tới tiền phương mặt trận ở bắc đường Chín.

***

Từ hôm tham mưu trưởng Dương đi chuẩn bị chiến trường với 198 chính ủy Ngọc lúc nào cũng thấy bồn chồn, lo lắng. Nhất là sau hôm ông Dương đi được mấy ngày thì nghe tin đoàn cán bộ trinh sát chiến trường bị lọt vào ổ phục kích,  bốn người hy sinh, một người bị thương ông lo cuống cả lên. Chạy đôn, chạy đáo mấy cơ quan để hỏi biết số cán bộ xe tăng không việc gì ông mới hơi yên tâm. Sống và làm việc với nhau đã mấy năm ông đặc biệt quý trọng người tham mưu trưởng này. Mặc dù là người làm công tác quân sự nhưng ông Dương lại mang nhiều dáng dấp của một cán bộ chính trị. Dáng người thì nhỏ nhắn, mảnh khảnh. Tính nết thì ôn hòa, nhũn nhặn. Thái độ lúc nào cũng cởi mở, dễ gần. Khi làm việc thì cương quyết đấy nhưng cũng hết sức mềm dẻo. Dù có bực bội đến đâu cũng chưa thấy ông Dương to tiếng bao giờ. Từ ngày cùng đi với 198 hai anh em càng có dịp gần gũi nhau hơn và ông càng nhận thấy ở ông Dương có nhiều điểm tương đồng với mình hơn và hai người càng quý trọng nhau hơn.
Chính ủy Ngọc còn mong tham mưu trưởng Dương về vì một lẽ nữa là một, hai ngày tới mặt trận sẽ chính thức giao nhiệm vụ cho các đơn vị, trong đó có tiểu đoàn xe tăng 198. Tất nhiên một mình ông cũng có thể thay mặt Bộ tư lệnh Thiết giáp để đề đạt về phương án sử dụng nhưng dù sao có các cán bộ quân sự vẫn hơn. Vì vậy khi thấy tham mưu trưởng Dương và Phúc, Tân đi trinh sát về ông mừng lắm. Nắm chặt hai tay người đồng chí ông líu ríu khác hẳn vẻ điềm đạm thường ngày:
- Gớm! Cái hôm nghe tin đoàn các ông bị trúng phục kích tôi lo lo là. Nói dại hôm ấy mấy anh em mà bị làm sao thì gay go to.
Tham mưu trưởng Dương trái lại vẫn giữ được vẻ bình tĩnh cố hữu:
- Cũng may anh ạ! Suốt dọc đường đi cứ bị các “bố” bộ binh chê là chân ngắn, nhưng chính vì thế mà lại nằm ngoài tầm súng.
Trưởng ban tác huấn Phúc góp chuyện:
- Cũng chẳng biết thế nào mà nói. Người ta bảo bom đạn nó tránh mình thôi! Mà nghe nói ở sở chỉ huy cũng bị nó đánh liên tục phải không thủ trưởng?
Chính ủy Ngọc cười:
- Cúng may mà Bộ tư lệnh quyết định chuyển vị trí chứ nếu cứ ở chỗ cũ có khi không gặp được các cậu nữa ấy chứ! Từ hôm về đây máy bay nó vẫn đánh nhưng chỉ đánh các khu vực xung quanh thôi.
Hàn huyên một hồi tham mưu trưởng Dương mới sơ bộ báo cáo kết quả chuyến trinh sát. Khi nghe được ý định đưa xe tăng vào hướng nam Làng Vây chính ủy Ngọc mừng rỡ:
- Tốt lắm! Nếu đưa được xe tăng vào hướng này ta sẽ gây ra một bất ngờ lớn cho địch và chắc chắn sẽ đạt hiệu quả cao. Có lẽ sáng mai tôi và anh sẽ lên gặp Bộ tư lệnh mặt trận để báo cáo tình hình. Còn bây giờ các anh nghỉ ngơi, tắm giặt đi đã!
Tham mưu trưởng Dương hỏi nhỏ:
- Vấn đề này có cần xin ý kiến số 1 không anh?
Chính ủy Ngọc trầm ngâm:
- Theo tôi cũng không cần thiết đâu. Khi nào Bộ tư lệnh mặt trận đồng ý ta sẽ báo cáo về cho anh ấy biết là được.

***

Ngày hôm sau chính ủy Ngọc và tham mưu trưởng Dương đến gặp tham mưu trưởng mặt trận để đề đạt ý kiến sử dụng xe tăng. Sau khi nghe hai người báo cáo ý định sử dụng xe tăng tham gia tiến công Làng Vây trên cả hai hướng tây và nam ông mừng lắm song cũng đắn đo:
- Hướng tây thì rõ rồi, các anh có thể đưa xe tăng vào tham chiến theo đường Chín. Còn hướng nam địa hình như thế liệu các anh có thực hiện được không?- Ông chỉ tay vào vệt xanh mờ của con sông Sê Pôn- Con sông này nó bao bọc quanh mặt nam cứ điểm mà theo tôi biết hai bờ của nó rất đứng, các anh làm sao mà qua nổi?
Tham mưu trưởng Dương cũng chỉ vào bản đồ:
- Báo cáo thủ trưởng! Chúng tôi dự kiến sẽ cơ động theo đường bộ đến Pê Sai, sau đó từ Pê Sai vào Làng Vây chúng tôi sẽ lợi dụng lòng sông để cơ động.
Tham mưu trưởng mặt trận ngạc nhiên:
- Nghĩa là các anh cho xe bơi theo dòng sông à?
Chính ủy Ngọc giờ mới lên tiếng:
- Báo cáo anh, đúng thế đấy! Hồi ở ngoài bắc chúng tôi cũng đã có một cuộc diễn tập trong tình huống tương tự. Xe tăng lợi dụng lòng sông để cơ động tiếp cận cứ điểm địch một cách bí mật, sau đó bất ngờ xuất hiện nên đạt hiệu quả rất cao.
Tham mưu trưởng mặt trận tỏ vẻ ngờ vực:
- Tôi cũng đã nghe nói về cuộc diễn tập đó. Tuy nhiên chế độ thủy văn của con sông này rất khác với các con sông ngoài bắc, mùa này lại là mùa khô nên chắc sẽ rất nhiều đá ngầm. Liệu các anh có vượt qua được không?
Tham mưu trưởng Dương chắc nịch:
- Báo cáo thủ trưởng! Đúng là có rất nhiều khó khăn khi đưa xe tăng vào hướng này. Nhưng nếu cấp trên cho công binh giúp chúng tôi khắc phục đường cơ động thì chắc chắn sẽ thực hiện được
Tham mưu trưởng mặt trận gật đầu:
- Hiện nay mặt trận có một trung đoàn công binh, nếu cần thiết có thể huy động thêm công binh của 559 nên cũng không khó khăn lắm về lực lượng. Tuy nhiên phải xem xét kỹ khối lượng công việc và khả năng liệu có hoàn thành được không?
Tham mưu trưởng Dương tươi hẳn nét mặt:
- Mặc dù chúng tôi chưa trinh sát thật kỹ càng nhưng sơ bộ thấy rằng cũng không lớn lắm. Nếu thủ trưởng đồng ý chúng tôi sẽ cùng bên công binh trinh sát thật cụ thể. Ngoài ra chúng tôi cũng đã trinh sát sơ bộ trên hướng tây, ở hướng này xe tăng chỉ có thể đi theo đường Chín nên đề nghị mặt trận giải quyết Huội San sớm chúng tôi mới cơ động được.
Tham mưu trưởng mặt trận gật đầu:
- Được! Quyết tâm của chiến dịch là sẽ “nhổ” Huội San trước nên các anh yên tâm.
Được lời như cởi tấm lòng, hai anh em chào tham mưu trưởng mặt trận rồi cùng về. Chính ủy Ngọc bảo ông Dương viết điện về báo cáo tình hình cho số 1.

***

Nhận được điện báo từ mặt trận gửi về báo cáo việc đại đội 9 đã được gọi quay ra và ý định sử dụng lực lượng tham gia tiến công Làng Vây từ hai hướng quyền tư lệnh Đào thấy nhẹ cả người. Ông giở tấm bản đồ miền Tây Quảng Trị ra nghiền ngẫm. Thực ra từ khi quyết định đưa xe tăng vào địa bàn này ông đã giành nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu về tuyến phòng thủ Đường Chín- Khe Sanh của địch. Mặc dù các nguồn thông tin không thật đày đủ nhưng ông cũng biết rằng đây là tuyến phòng thủ mạnh nhất của Mỹ và ngụy quân Sài Gòn. Nói gì thì nói đây cũng là nơi đối đầu trực tiếp giữa ta và địch, giữa miền Bắc với miền Nam, ngoài ra đây cũng là một khu vực có vị trí hết sức quan trọng trong âm mưu ngăn chặn hệ thống đường tiếp vận của ta vào các mặt trận phía trong. Chính vì vậy chính quyền Giôn- xơn đã không ngần ngại bỏ ra không biết bao nhiêu tiền của và tâm sức để thiết lập nên ở đây một tuyến phòng thủ vào loại vững chắc nhất, được ứng dụng những phát minh mới nhất của nền công nghiệp quân sự hùng mạnh bậc nhất thế giới. Chẳng thế mà Mắc - Na- ma- ra- bộ trưởng quốc phòng Mỹ đã mạnh miệng tuyên bố: “một con chuột nhắt cũng không lọt qua được”. Trong chuỗi cứ điểm phòng thủ ấy Khe Sanh được tướng Oét- mo- len đặc biệt coi trọng và đã đổ vào đây một lực lượng lớn các đơn vị thiện chiến nhất của quân đội Mỹ tại miền Nam cộng với sự chi viện tối đa của hỏa lực không quân và pháo binh. Ỷ vào sức mạnh quân sự phía Mỹ định biến nơi đây thành một Điện- biên- phủ để tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta. Làng Vây lại là cứ điểm tiền tiêu về phía tây của Khe Sanh nên chắc chắn rằng sẽ chẳng dễ dàng gì khi phải đánh vào đó. Từ hôm được báo cáo về nhiệm vụ sơ bộ mặt trận giao cho tiểu đoàn 198 tham gia đánh Làng Vây ông đã nhiều lần nghiên cứ địa hình của khu vực này. Nhìn trên bản đồ ông thấy với địa hình như vậy thì rất có khả năng xe tăng chỉ có thể đánh trên một hướng theo đường Chín và chắc chắn đó là hướng phòng ngự chủ yếu của địch. Điều đó sẽ là một khó khăn rất lớn và khó tránh khỏi thiệt hại. Việc Bộ tư lệnh tiền phương và đoàn 198 quyết định sử dụng xe tăng tiến công Làng Vây từ hai hướng khiến ông rất hài lòng. Ông thầm khen tinh thần tích cực chủ động và tính sáng tạo của những người cộng sự. Đây sẽ là ngón đòn bất ngờ mà các đồng đội của ông dành cho kẻ địch. Với tay lấy cuốn “Sổ điện đi” ông viết ngay bức điện trả lời: “Hoàn toàn nhất trí với ý định của số 2. Chú ý tuyệt đối giữ bí mật thật để tạo thế bất ngờ. Ký điện: Số 1” và gọi công vụ Lưu đưa ngay xuống cơ yếu.

***

Hai ngày sau Bộ tư lệnh mặt trận chính thức giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Đến phần nhiệm vụ của xe tăng cả chính ủy Ngọc, tham mưu trưởng Dương lẫn các cán bộ của đoàn 198 đều bị bất ngờ bởi ngoài nhiệm vụ tham gia tiến công Làng Vây như đã được dự báo trước giờ đây tiểu đoàn 198 còn có nhiệm vụ phối thuộc cho trung đoàn bộ binh 24 đánh Huội San.
Như đoán được ý nghĩ của mấy cán bộ xe tăng, sau khi phổ biến xong nhiệm vụ cho các đơn vị đồng chí tham mưu trưởng mặt trận nói thêm:
- Đối với xe tăng lúc đầu chúng tôi dự định sẽ chỉ sử dụng để đánh Làng Vây và sau đó phát triển về phía đông. Tuy nhiên sau khi xem xét lại tình hình cũng như so sánh tương quan lực lượng ta và địch ở Huội San chúng tôi thấy rằng để đảm bảo chắc thắng và mở thông đường Chín cho xe tăng tiếp cận Làng Vây cần thiết phải tăng cường xe tăng cho trung đoàn 24. Thời gian nổ súng đánh Huội San dự kiến từ 20 đến 24 tháng Giêng. Vì vậy ngay sau đây các đồng chí cần hiệp đồng cụ thể với bên 24 và khẩn trương làm công tác chuẩn bị ngay mới kịp. Còn công tác chuẩn bị để đánh Làng Vây tiếp tục tiến hành theo kế hoạch, nội dung công việc như thế nào các đồng chí hiệp đồng trực tiếp với trung đoàn 7 công binh. Các đồng chí còn hỏi gì nữa không?
Tham mưu trưởng Dương giật mình, như vậy chỉ còn chưa đầy một tuần nữa sẽ đánh Huội San, thời gian chuẩn bị như vậy là quá gấp gáp. Ông đưa mắt nhìn chính ủy Ngọc, ông Ngọc khẽ gật đầu như ngầm bảo: “Thôi! Quân lệnh như sơn! Cứ thế mà làm thôi!” nên đứng dạy:
- Báo cáo! Chúng tôi đã rõ nhiệm vụ.
Tham mưu trưởng mặt trận gật đầu:
- Thế thì tốt! Các đồng chí có thể về được.
Từ sở chỉ huy về hầm chính ủy Ngọc mấy anh em không ai nói một lời. Đã đành là người lính cấp trên giao bất cứ nhiệm vụ gì đều phải tận tâm, tận lực để hoàn thành nhưng mấy anh em vẫn cảm thấy có cái gì đó không thoải mái. Từ khi vào đây rồi nhận nhiệm vụ sơ bộ tất cả tâm trí, sức lực của họ đều dồn vào cho một mục tiêu duy nhất là Làng Vây. Đó sẽ là trận đánh đầu tiên của binh chủng, là trận đánh để đời của họ. Thành hay bại của trận đánh này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của binh chủng sau này nên họ nhất định phải thắng. Mà một trong những yếu tố góp phần đảm bảo cho họ đánh thắng là yếu tố bất ngờ. Kẻ địch không thể ngờ sẽ có một cơn bão thép và lửa sẽ bất thần giáng xuống đầu chúng trong những ngày sắp tới. Thế mà bây giờ họ lại phải đưa lực lượng tham gia đánh vào một mục tiêu khác. Yếu tố bí mật bất ngờ đối với địch ở Làng Vây sẽ không còn, điều đó sẽ ảnh hưởng lớn đến thắng lợi của trận đánh.
Mặc dù trong lòng cũng đang rối như tơ vò nhưng nhìn vẻ mặt đăm chiêu của các cán bộ dưới quyền chính ủy Ngọc vẫn phải tươi cười:
- Thôi! Có gì mà buồn như đưa đám vậy! Đã vào đây đằng nào chả phải đánh nhau! Mà không nhổ được “cái Huội San” này thì mình cũng “cóc” có đường tiếp cận Làng Vây phải không?. 
Đoàn trưởng Lãm vừa cắt cơn sốt rét được mấy ngày người đang còn xanh rớt nhưng cũng cố có mặt nhận nhiệm vụ. Từ lúc được nghe phổ biến sẽ phải tham gia đánh Huội San anh đã hậm hực lắm giờ mới có dịp bung ra:
- Đã đành là thế nhưng các “bố” ấy cứ làm như trò trẻ ấy! Dự báo một đằng đến lúc triển khai thực hiện lại một nẻo. Mà chỉ còn có chưa đầy một tuần nữa đã đến ngày nổ súng thì chuẩn bị làm sao kịp.
Đoàn phó Phúc tỏ vẻ lo lắng:
- Chuẩn bị gấp cũng không đáng ngại vì Huội San này cũng không đến nỗi “rắn” nếu so với Làng Vây. Tuy nhiên cái đáng lo nhất là ta sẽ mất yếu tố bí mật, bất ngờ dành cho Làng Vây. Kiểu gì khi tham gia đánh Huội San ta cũng phải bộc lộ lực lượng. Mà đã như vậy chắc chắn bọn địch ở Làng Vây và cả miền Nam này đều biết ta đã đưa xe tăng vào chiến trường.
Tiểu đoàn trưởng Tân cũng tham gia:
- Gay đấy các anh ạ! Khi ta đã xuất hiện ở Huội San chắc chắn địch sẽ tăng cường phòng thủ cho làng Vây. Mà đã như thế thì khó “nhằn” lắm.
Tai vẫn nghe mọi người bàn tán nhưng tham mưu trưởng Dương vẫn cúi đầu trầm ngâm. Điều Phúc vừa nói cũng là mối quan tâm lớn nhất của ông lúc này. Tuy nhiên ông lại có suy nghĩ hơi khác một chút: trước sau gì ta chẳng phải bộc lộ lực lượng. Tất nhiên như vậy khi đánh Làng Vây sẽ khó khăn hơn nhưng nếu coi Làng Vây là một cuộc thử nghiệm thì như vậy cuộc thử nghiệm này sẽ hoàn chỉnh hơn, sòng phẳng hơn và cũng sẽ cho một đáp số thực hơn. Và rõ ràng những kết quả, những bài học rút ra từ đó cũng sẽ thiết thực hơn, có giá trị hơn. Trong điều kiện như vậy cái cần thiết nhất là cái “trí” của người cầm quân. Dẫu biết rõ lực lượng của nhau rồi đấy nhưng không phải là không có những bất ngờ. Ừ thì cứ cho là chúng đã biết ta đã đưa xe tăng vào chiến trường này nhưng chúng vẫn hoàn toàn có thể bị bất ngờ bởi cách ta sử dụng lực lượng, bởi cách ta chọn hướng tiến công, bởi cách thực hành tiến công rồi bởi cả thời cơ, thời điểm nổ súng... cơ mà. Nghĩ vậy ông cười:
- Thôi! Không có gì mà phải quá lo lắng như vậy. Chúng ta vẫn có thể làm cho chúng bị bất ngờ các anh ạ!
Cả mấy anh em đều ngỡ ngàng, đoàn trưởng Lãm nôn nóng:
- Thủ trưởng nói thế nghĩa là thế nào?
Tham mưu trưởng Dương vẫn nhỏ nhẹ như thường lệ:
- Có thể chắc chắn một điều là sau khi ta đánh Huội San địch sẽ tăng cường lực lượng phòng thủ cho Làng Vây, và cũng có một điều chắc chắn hướng phòng ngự chủ yếu của chúng sẽ là hướng Tây. Vì vậy ta sẽ dành cho chúng bất ngờ thứ nhất là lấy hướng Nam làm hướng tiến công chủ yếu. Ngoài ra có tăng cường thì tăng cường chúng vẫn không thể căng như dây đàn suốt hai mươi tư giờ trong ngày, suốt bảy ngày trong tuần và suốt ba mươi ngày trong tháng. Vậy thì chúng ta sẽ dành cho chúng một bất ngờ lớn nữa là sẽ đánh chúng vào lúc chúng không ngờ nhất. Nói tóm lại các anh đừng có quá lo lắng. Nếu chịu khó suy nghĩ chúng ta sẽ còn nhiều bất ngờ dành cho chúng.
Mấy khuôn mặt như giãn cả ra, sự lo lắng đã dịu đi phần nào. Tham mưu trưởng Dương quay sang chính ủy Ngọc thì thầm một lát rồi cao giọng:
- Còn bây giờ ta sẽ đi vào công việc cụ thể. Chấp hành mệnh lệnh của mặt trận tôi đã xin ý kiến anh Ngọc và chúng tôi quyết định sẽ để đại đội 3 tăng cường cho trung đoàn 24 đánh Huội San. Để đảm bảo yêu cầu về thời gian tôi đề nghị thế này: ngay sau đây anh Lãm, anh Phúc tới làm việc với trung đoàn 24 về phương án sử dụng xe tăng và tổ chức cho anh em “xê Ba” trinh sát chiến trường. Còn anh Tân sẽ đến hiệp đồng với trung đoàn công binh 7 về công tác bảo đảm cơ động cho xe tăng. Theo tôi ta nên đề xuất với họ dành phần lớn lực lượng cho hướng Nam. Bên cạnh đó cũng đề nghị các anh xác định vị trí tập kết chiến đấu và cho cơ động dần lực lượng lên. Các anh thấy thế nào?
Ba cán bộ của đoàn 198 nhìn nhau, cuối cùng đoàn trưởng Lãm lên tiếng:
- Chúng tôi hoàn toàn nhất trí ạ!
Chính ủy Ngọc tươi cười:
- Thôi! Bây giờ các anh về trước lo công việc đi. Một vài ngày nữa ổn định ở trên này chúng tôi sẽ xuống với anh em.
Lãm, Phúc, Tân đứng dạy bắt tay tạm biệt chính ủy Ngọc và tham mưu trưởng Dương rồi lập tức lên đường về đơn vị. Tham mưu trưởng Dương cũng viết ngay một bức điện báo cáo nhiệm vụ mới của đoàn 198 đưa chính ủy Ngọc ký để gửi về Bộ tư lệnh. Trong đó ông báo cáo ý định của mình là sẽ sử dụng đại đội 3 vào trận đánh này.

***

Cầm bức điện từ tiền phương gửi về quyền tư lệnh Đào ngồi lặng đi đến hàng phút. Huội San ở chỗ nào, là cái gì mà những người chỉ huy binh chủng hợp thành lại yêu cầu phải đưa xe tăng vào tham chiến? Sự thay đổi này trong cách sử dụng xe tăng của Bộ tư lệnh mặt trận đã làm tình hình thay đổi hoàn toàn. Yếu tố bất ngờ mà các đồng đội của ông đã chuẩn bị dành cho địch ở Làng Vây thế là đã bị phá sản. Thế cờ đã được sắp đặt sẵn sàng, chỉ cần đi một nước quyết định nay lại bị xáo trộn. Đã khó khăn giờ sẽ lại chồng chất thêm khó khăn.
Trong cuộc đời binh nghiệp hơn hai mươi năm ông cũng đã trải qua không ít thời điểm khó khăn. Kinh nghiệm dạy cho ông biết những lúc như vậy cần phải hết sức bình tĩnh và phải có cách tiếp cận vấn đề từ nhiều phía. Vì vậy chỉ một lát sau ông đã trở lại vẻ bình thản như mọi ngày. Ngồi ngay ngắn lại ông trải rộng tấm bản đồ địa hình khu vực Tây Quảng Trị trên bàn và bắt đầu tìm kiếm cái địa danh vừa mới được nhắc đến trong bức điện. Phải mất một lúc lâu ông mới tìm thấy ba chữ “Bản Huội San” nhỏ li ti trên bản đồ. Ngồi chú mục vào ông bắt đầu nhận thấy những yếu tố hợp lý trong quyết định của những người chỉ huy mặt trận. Rõ ràng là Huội San có một vị trí hết sức trọng yếu. Nó án ngữ con đường huyết mạch số Chín. Không diệt được nó thì không thể đưa lực lượng từ Lào về Việt Nam được. Và ngay cả xe tăng cũng không thể tiếp cận Làng Vây từ hướng tây. Vấn đề là tại sao Bộ tư lệnh mặt trận lại không quyết định sử dụng xe tăng ngay từ đầu cho cụm cứ điểm này. “Chắc nó không quá mạnh- ông suy luận- nhưng bởi yêu cầu chắc thắng nên cuối cùng họ mới thay đổi quyết định”. Ông tự nhủ: “nếu là mình có lẽ mình cũng sẽ làm như vậy”. Nghĩ đến đây ông cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Quyết định của Bộ tư lệnh mặt trận rõ ràng là không thể thay đổi được. Bây giờ chỉ còn một con đường duy nhất là tìm cách thực hiện sao cho tốt nhất mà thôi.
Với cây bút chì xanh quyền tư lệnh Đào khoanh một vòng vào khu vực có dòng chữ Huội San rồi lại ngồi im suy ngẫm. Ông bỗng nhận thấy rằng tất cả chưa phải đã hoàn toàn bế tắc. Điều đầu tiên ông nghĩ đến là trước sau gì cũng sẽ đến lúc phải bộc lộ lực lượng. Nếu ở Làng Vây ta quá đề cao yếu tố bất ngờ về sự xuất hiện của xe tăng trên chiến trường thì rõ ràng những bài học rút ra từ đó sẽ không thật thực sự, thực tế. Và nếu đem những bài học đó vận dụng vào những trận đánh sau có khi sẽ đem lại những kết quả tồi? Vậy thì không nên đặt vấn đề này quá ư quan trọng. Còn yếu tố bất ngờ lúc nào mà chẳng có, nó chẳng phải từ trên trời rơi xuống mà xuất phát từ những ý tưởng táo bạo của người chỉ huy trước một tình hình cụ thể. Không chỉ có bất ngờ về lực lượng mà còn có thể tạo bất ngờ về thế trận, về thời gian, về địa điểm, về quy mô, về cách đánh v.v... Trong lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, bằng cách tạo ra yếu tố bất ngờ mà dân tộc này đã từng biết bao lần làm thất điên, bát đảo những đội quân hùng mạnh và thiện chiến nhất bằng lực lượng quân sự nhỏ, yếu hơn nhiều lần. Tất nhiên, để tạo ra nó cũng chẳng hề dễ dàng mà thường là phải tốn khá nhiều tâm lực. Vậy thì các đồng đội của ông sẽ dành cho địch sự bất ngờ nào đây? Tất nhiên ở Huội San bất ngờ đầu tiên phải kể đến là lực lượng, địch chưa hề biết xe tăng ta đã có mặt trên chiến trường. Đây sẽ là một lợi thế lớn. Còn ở Làng Vây yếu tố bất ngờ về lực lượng đã không còn, vấn đề là phải tạo ra những bất ngờ khác và ý định sử dụng xe tăng từ hướng nam sẽ là bất ngờ lớn nhất với kẻ địch. Ông hơi mỉm cười khi nghĩ rằng chính trận Huội San này sẽ là một mẹo “dương tây” để “kích nam” ở Làng Vây. Nghĩ đến đây ông thấy nhẹ hẳn người. Ngay lập tức ông với cuốn sổ điện đi và viết: “Gửi số 2! Số 2 cần tích cực đề nghị để Bộ tư lệnh mặt trận chọn hướng nam làm hướng tiến công chủ yếu vào Làng Vây. Còn trước mắt tập trung làm thật tốt công tác chuẩn bị để đánh thắng tại Huội San. Ký điện: số 1”.   


VŨ KHÍ BẤT KHẢ CHIẾN BẠI CỦA QĐND VIỆT NAM

Vũ khí bất khả chiến bại của Quân đội nhân dân Việt Nam
QĐND Việt Nam đang ngày càng được trang bị nhiều vũ khí hiện đại, nhưng không chỉ có thế...

Tại sao Quân đội nhân dân Việt Nam không đông, trang bị không mạnh lại có thể chiến thắng được một đội quân hùng mạnh nhất thế giới như Mỹ và chư hầu?

Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả, các tổ chức quốc tế cũng như trong nước tiến hành nhằm mổ xẻ, phân tích về vấn đề này.
Có rất nhiều nguyên nhân làm nên điều đó. Đó là tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, là đường lối và chiến lược tiến hành chiến tranh, là tài thao lược của các tướng lĩnh và tinh thần chiến đấu dũng cảm của bộ đội...
Tất cả đều đúng nhưng chưa thật đầy đủ nếu không nhắc đến sức mạnh tinh thần, niềm lạc quan yêu đời có đôi chút lãng mạn của những người lính trên chiến trường.
Với thứ vũ khí tinh thần đó, những người lính cách mạng đã vượt qua mọi gian khổ và ác liệt của chiến tranh để tồn tại và giành chiến thắng.

Nụ cười thách thức bom đạn tại Thành cổ Quảng Trị 1972.
"Nụ cười thách thức bom đạn" tại Thành cổ Quảng Trị 1972.
Vật bất ly thân trong hành trang của mỗi người chiến sĩ
So với các bậc tiền bối trong kháng chiến chống Pháp, nhìn chung thế hệ những người lính chống Mỹ đa số có học vấn cao hơn.
Rất nhiều trong số họ đã tốt nghiệp trung học phổ thông, thậm chí còn có rất nhiều sinh viên đã tốt nghiệp hoặc đang theo học tại các trường đại học cũng “gác bút nghiên lên đường chiến đấu”.
Phần nhiều trong số họ đã thuộc nằm lòng những câu thơ đầy bi tráng của Thâm Tâm, Quang Dũng... và tự nguyện lên đường đi vào chỗ chết nhẹ tựa lông hồng - nhất là từ khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam và đem máy bay đánh phá miền Bắc.
Để vào chiến trường miền Nam, họ thường phải hành quân bộ hàng vài tháng trời dọc dãy Trường Sơn hiểm trở với chiếc ba- lô đầy quân trang, quân dụng, lương thực, thực phẩm... nặng đến 30- 35 kg.
Có thể nói, hầu như trong ba lô của người lính nào cũng có một vài cuốn sổ tay - món quà rất phổ biến mà người thân, bạn bè họ trao tặng trước lúc lên đường và nó đã trở thành vật “bất ly thân” của nhiều người.
Có những người trong số họ đã từng lén bỏ lại dọc đường một hộp thịt, một bánh lương khô hay vài ki- lô- gam gạo để đôi vai đỡ phần trĩu nặng nhưng vẫn không chịu bỏ cuốn sổ “bất ly thân” của mình.
Họ dùng cuốn sổ đó để viết nhật ký, để tập làm thơ, để ghi lại những gì mình cảm nhận được... giữa những trận đánh hay khi nằm trong hầm sâu tránh bom đạn đối phương.
Chính nhờ họ mà giờ đây hậu thế được đọc những dòng chân thật nhất về chiến tranh qua “Nhật ký Vũ Xuân”, “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, “Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc, “Tài hoa ra trận” của Hoàng Thượng Lân...
Trong đó, họ không giấu diếm những gian khổ, ác liệt của chiến tranh mà họ phải đối mặt. Đó là mưa bom bão đạn của đối phương, đó là sự chết chóc của đồng bào, đồng chí và chính họ, đó là đói cơm nhạt muối, đó là những trận sốt rét triền miên...
Tuy nhiên, tất cả những thách thức đó không làm cho họ thối chí, không làm cho họ chùn bước. Trong những cuốn sổ tay dưới đáy ba lô ấy - dù đôi khi còn ngô nghê, vụng dại song luôn toát lên một niềm lạc quan yêu đời đến bất tận.
Và có lẽ sẽ không ngoa khi nói chính cuộc chiến ấy đã là cái “lò” đào tạo ra một lớp nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nghệ sĩ... mặc áo lính song đầy tài hoa và không kém phần lãng mạn.

Đời mình là một khúc quân hành.
"Đời mình là một khúc quân hành".
Khoảng lặng giữa hai trận đánh
Cũng đã có một số người - không nhiều lắm đi sâu tìm hiểu về cuộc sống của những người lính giữa hai trận đánh và cũng đã có những phát hiện khá thú vị về sự khác biệt giữa hai bên chiến tuyến.
Với những đội quân nhà giàu như quân đội Mỹ, người ta không tiếc tiền của đổ ra để lên dây cót tinh thần cho binh lính thông qua các hoạt động giải trí.
Tuy nhiên, dường như những thứ đó không có mấy tác dụng và hình ảnh thường thấy của những người lính Mỹ sau các lần đi trận trở về là những cuộc vui thâu đêm suốt sáng tại những quán bar với rượu mạnh và những màn thoát y vũ...
Còn trong hành trang cá nhân của họ không hiếm gặp những xấp tạp chí Playboy, những ấn phẩm sexy dành riêng cho quân đội và cả những con búp bê tình dục bằng cao su...
Còn với các binh sĩ Việt Nam Cộng hòa (VNCH) cũng chẳng khác với quân Mỹ là mấy. Có thể thấy điều đó qua mấy câu thơ của một nhà thơ lính VNCH:
“...Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui...”
(Sông Mao phá phách với người - Nguyễn Bắc Sơn)
Vậy còn những người lính cách mạng họ đã làm gì trong khoảng lặng giữa hai trận đánh?
Ngoài những công việc thiết yếu của mỗi người lính họ không chỉ ghi nhật ký, tập làm thơ... như đã nói trên, vào thời gian rỗi họ còn làm nhiều việc khác mà người ngoài cuộc không thể tưởng tượng ra.
Thật vậy, sẽ có nhiều người không thể tưởng tượng được trong những chiến hào, dưới gầm xe tăng hay trong những hang đá Trường Sơn, trong những địa đạo đã có rất nhiều lớp học văn hóa được tổ chức.

Văn công giải phóng hát cổ vũ tinh thần cho chiến sĩ ta trong chiến tranh.
Văn công giải phóng hát cổ vũ tinh thần cho chiến sĩ ta trong chiến tranh.
Học viên là lính mà giáo viên cũng là lính, thậm chí cấp chức thấp hơn. Họ không chỉ học văn hóa mà còn học ngoại ngữ, học vẽ, học hát, học làm thơ, học viết truyện...
Họ cũng dành nhiều thời giờ cùng sự sáng tạo bất tận của mình để làm ra nhiều thứ nhạc cụ từ mảnh xác máy bay Mỹ hoặc từ những vật dụng thông thường như đàn ghi - ta, đàn măng - đô - lin, đàn nhị, đàn bát v.v...
Với những nhạc cụ đó, họ hát cùng nhau những ca khúc đầy lạc quan, yêu đời. Trong đó không chỉ là những khúc quân ca mà cả những bản tình ca nổi tiếng của thế giới.
Ngoài ra, họ còn có nhiều hoạt động tập thể khác để gắn kết với nhau hơn như làm báo tường, thi nấu ăn bằng các thực phẩm tự kiếm được trong rừng v.v...
Ở những nơi có điều kiện hơn, những cuộc hội diễn văn nghệ giữa các đơn vị và những buổi biểu diễn của các đội văn công xung kích cũng thường xuyên được tổ chức. Rất giản dị thôi nhưng ý nghĩa và tác động thì vô cùng lớn.
Có lẽ đó chính là nguồn cảm hứng để nhà thơ Phạm Tiến Duật viết nên những dòng thơ bất hủ:
“...Tiếng hát bay vòng tháng năm
Ở đâu mà không cần tiếng hát
Nhưng giữa chiến trường nhiều khi thay cho nhạc
Là những tâm hồn có nhạc ở bên trong”.
(Nghe em hát trong rừng- Phạm Tiến Duật)

Lái xe trên dây cáp là câu chuyện thần kỳ trên đường Trường Sơn.
Lái xe trên dây cáp là câu chuyện thần kỳ trên đường Trường Sơn.
Những cái Tết trên chiến hào
Cái Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam đã trường tồn cùng dân tộc từ hàng ngàn năm và bao giờ cũng đem lại những cảm xúc thật đặc biệt trong lòng mỗi con dân nước Việt khi “Tết đến, Xuân về”.
Với những người lính trên chiến trường cũng không là ngoại lệ. Trong chiến hào ác liệt hay giữa rừng sâu hiu quạnh, giữa nỗi nhớ nhà nặng trĩu trong lòng những người lính phải đối mặt với không chỉ bom đạn mà còn biết bao tác động khác.
Đó là truyền đơn nhắc về cái Tết sum họp gia đình cùng những ưu đãi khi trở về với “chính nghĩa quốc gia” rải trắng rừng. Đó là nỉ non tiếng hát “Xuân này con không về” từ bên kia chiến tuyến vọng lại hoặc lan tuyền khắp không gian qua làn sóng phát thanh.
Đó là những khắc khoải nghĩ suy giữa sống và chết, giữa gian nan và sung sướng...
Trong điều kiện đó, những người lính cách mạng vẫn biết tổ chức cho mình những cái Tết trang trọng nhất, đầm ấm nhất trong khả năng của mình.
Với bộ óc sáng tạo và bàn tay khéo léo, từ những cành cây khô, những tờ giấy viết thư với lọ thuốc đỏ, viên thuốc qui-nin... những cành đào, cành mai đã hiện diện trên chiến hào hoặc trong những căn hầm dã chiến của họ.
Tiêu chuẩn đường ít ỏi để dành dụm cả năm cùng với vài “lon” kê đổi được của đồng bào cũng được hóa thân thành những viên kẹo “giả vừng” giòn tan...
Cùng với lá cờ Tổ Quốc và tấm ảnh Bác Hồ - một bàn thờ giản dị nhưng cũng hết sức trang trọng đã được dựng lên.
Về phía Bộ chỉ huy các cấp cũng cố gắng để bảo đảm đến mức cao nhất các loại lương thực, thực phẩm và quà Tết cho bộ đội.
Một kg gạo nếp, đỗ xanh, một bao thuốc Tam Đảo, một gói kẹo Hải Châu... để đến được tay những người lính ngoài mặt trận đã thấm biết bao mồ hôi và có khi cả máu của những người ở hậu phương và những người lính đường dây 559.
Tất cả những cái đó làm những người lính ngoài trận tuyến vơi bớt nỗi nhớ nhà và cảm thấy ấm lòng, thấy gần gũi hơn với người thân ở hậu phương.
Đêm 30 Tết, vào thời khắc giao hòa của Đất Trời nếu có điều kiện các đơn vị đều tổ chức đón giao thừa chung. Ở đó, họ cùng hòa chung tiếng hát gửi lòng mình về quê hương. Trò chơi đón giao thừa phổ biến nhất ở các đơn vị lúc đó thường là “hái hoa dân chủ”.
Một cành cây mà hoa quả của nó chứa trong mình một câu đố, một yêu cầu mà người hái được phải thực hiện như hát một bài, kể một câu chuyện tiếu lâm hay thể hiện một câu chuyện nào đó bằng động tác...
Trò chơi giản dị nhưng thật vui, thật ngộ nghĩnh và cũng vô cùng háo hức cùng những tràng cười bất tận bất chấp những tiếng bom gầm, đạn réo xung quanh.
Và giây phút thiêng liêng được chờ đợi nhất là nghe Bác Hồ chúc Tết lúc giao thừa. Cả đơn vị ngồi im phăng phắc nghe như nuốt lấy từng lời của người Cha Già dân tộc phát ra từ chiếc đài bán dẫn.
Những lời chúc giản dị, ngắn gọn của Bác như đi thẳng vào lòng từng chiến sĩ, thắp sáng trong họ niềm tin tất thắng và thôi thúc họ cống hiến nhiều hơn nữa cho sự nghiệp kháng chiến. Ngay cả ở tuyến đầu giáp địch cũng vậy.
Họ cũng tụ tập về hầm chính trị viên vì đó là nơi duy nhất có đài. Ngồi chờ phút giao thừa họ thì thầm kể cho nhau nghe về cái Tết quê nhà.
Sau ngày Bác mất, Đài Tiếng nói Việt Nam vẫn tiếp tục phát lại lời chúc Tết của Bác và giây phút đó vẫn nguyên vẹn sự thiêng liêng trong lòng mỗi người chiến sĩ.
Sức mạnh tinh thần, lòng tin chiến thắng, niềm lạc quan, yêu đời có pha chút lãng mạn, hào hoa đã trở thành thứ vũ khí “bất khả chiến bại” của Quân đội Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Sức mạnh đó tiếp tục được phát huy trong các cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc sau này. Cho đến hôm nay và mãi mãi về sau nó vẫn còn nguyên giá trị và rất cần được kế thừa và phát huy.