Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

CHUYỂN HƯỚNG CHỦ YẾU, DỜI NGÀY N- QUYẾT ĐỊNH CHÍNH XÁC TẠI MẶT TRẬN



Chuyển hướng chủ yếu, dời ngày N: Quyết định vô cùng chính xác trong Chiến dịch giải phóng Phnom Pênh
Quân tình nguyện Việt Nam đã hy sinh nhiều xương máu để bảo vệ nhân dân Campuchia.

Được lời như cởi tấm lòng, đêm 06.01.1979, với sự trợ giúp của Trung đoàn Hải quân 962, Sư đoàn 7 và Lữ đoàn TTG 22 đã vượt sông Mekong chuyển sang tiến công về Phnom Pênh.

Kế hoạch hoàn hảo
Đáp ứng Lời kêu gọi của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia (MTĐKDTC), đồng thời để tự bảo vệ mình, thời điểm cuối năm 1978 Việt Nam chuẩn bị lực lượng, phương tiện tổ chức tổng phản công trên biên giới Tây Nam. Tướng Lê Trọng Tấn trực tiếp chỉ huy chiến dịch.
Tham gia chiến dịch có các đơn vị chủ lực của Quân đoàn 2, 3, 4 và các quân khu 5, 7, 9; 2 lữ đoàn hải quân đánh bộ, đoàn không quân 901 và một số đơn vị thuộc các quân, binh chủng kỹ thuật được tăng cường.
Theo kế hoạch tác chiến, Quân đoàn 2 sẽ hỗ trợ lực lượng Quân khu 9 tiến công quân khu Đông Nam của Khmer Đỏ, chiếm Kampot và vùng duyên hải Đông Nam Campuchia sau đó đánh về Phnom Pênh từ hướng Nam và Đông Nam.
Quân đoàn 3, tiến công từ Tây Ninh, vượt qua tỉnh Kampong Cham và vùng lãnh thổ đông bắc Campuchia, tiến đánh Phnom Pênh từ hướng Đông Bắc.
Quân đoàn 4 cùng các lực lượng của MTĐKDTC được tăng cường 1 trung đoàn Hải quân, 1 trung đoàn Công binh tiến công từ tây nam Tây Ninh, theo đường 1 qua tỉnh Svay Rieng đánh chiếm bến phà chiến lược Neak Lương và tiến công Phnom Pênh từ hướng Đông.
Chuyển hướng chủ yếu, dời ngày N: Quyết định vô cùng chính xác trong Chiến dịch giải phóng Phnom Pênh - Ảnh 1.
Trung đoàn 66 - Sư đoàn 304 truy kích địch ở Kô Công - Campuchia, 1977.
Quân khu 5, tiến công từ Pleiku theo đường 19 về hướng Tây để tiêu diệt quân Khmer Đỏ ở Đông Bắc Campuchia.
Lực lượng đổ bộ đường biển đánh vào vùng duyên hải Đông Nam Campuchia để chiếm Ream và cảng Sihanoukville trên bán đảo Kampong Som. Đoàn 901 không quân có nhiệm vụ chi viện lực lượng tiến công mặt đất và tham gia truyền đạt.
=
Do các hướng Đông và Đông Bắc đều bị con sông Mekong ngăn trở, Bộ Tư lệnh Mặt trận xác định hướng chủ yếu tiến công vào Phnom Pênh là hướng Nam và Đông Nam do lực lượng Quân khu 9 và Quân đoàn 2 đảm nhiệm, các hướng khác là thứ yếu và phối hợp.
Thời gian nổ súng phản công trên toàn tuyến vào ngày 23.12.1978. Thời gian tổng tiến công vượt qua biên giới là ngày 02.01.1979. Thời gian đồng loạt tiến công vào thủ đô Phnom Pênh là 08.01.1979.
Thực tế muôn màu muôn vẻ
Nói cho công bằng, đó là một kế hoạch hoàn hảo với 3 mũi tiến công hợp điểm vào cơ quan đầu não của địch. Tuy nhiên, kế hoạch vẫn chỉ là kế hoạch, còn thực tế thì muôn màu muôn vẻ và đòi hỏi con người phải có đối sách linh hoạt và thích hợp.
Trên hướng Quân đoàn 4, trước thắng lợi của các lực lượng Quân khu 7 tại Krachie, được sự đồng ý của Tư lệnh Mặt trận đã nổ súng tiến công sớm hơn 1 ngày- ngày 01.01.1979.
Chuyển hướng chủ yếu, dời ngày N: Quyết định vô cùng chính xác trong Chiến dịch giải phóng Phnom Pênh - Ảnh 3.
Chỉ huy đơn vị quân đội ta nghiên cứu địa hình, xây dựng phương án tác chiến.
Ngược lại, trên hướng tiến công của Quân đoàn 2 và Quân khu 9, ngay trước ngày N quân Khmer Đỏ bất ngờ tiến công chiếm khu vực kênh Vĩnh Tế - nơi Quân đoàn 2 chọn làm bàn đạp tiến công buộc lực lượng của quân đoàn phải đánh chiếm lại và đến 3.1.1979 mới đồng loạt tiến công.
Trên hướng tiến công của Quân đoàn 3, quân Khmer Đỏ bên bờ Đông sông Mekong nhanh chóng bị đánh tan, phải rút lui về củng cố tuyến phòng ngự bên bờ Tây đồng thời phá hủy hết thuyền, phà để làm giảm tốc độ tiến công của Quân tình nguyện.
Trái ngược với những dự đoán ban đầu, sau khi bị đánh tan tác ở các cứ điểm vòng ngoài, bến phà Neak Luong chỉ được phòng ngự lâm thời với lực lượng tương đối mỏng. Bởi vậy, ngày 06.01.1979, một bộ phận của Quân đoàn 4 đã chiếm được đầu cầu bên bờ Tây sông và phát triển chiến đấu về phía Phnom Pênh.
Phó Tư lệnh Quân đoàn 4 Bùi Cát Vũ nhớ lại: Trong lúc hầu hết quân địch đang hoang mang rút chạy, nếu ta nhanh chóng dấn lên sẽ rất thuận lợi. Còn nếu chậm trễ, bọn chúng sẽ thiết lập các tuyến phòng ngự mới sẽ rất khó khăn. Tuy nhiên, thời gian quy định vào Phnom Pênh là 08.01 nên phải xin ý kiến cấp trên.
Thật may cho các anh, vào thời điểm đó, phái viên Mặt trận Lâm Hà bay trên chiếc UH-1A đã có mặt.
Phó tư lệnh Bùi Cát Vũ kể: "Tôi đề nghị ngày mai cho đi luôn. Sang sông được bao nhiêu xe, chúng tôi đi bấy nhiêu, còn thì đi bộ. Hễ gặp địch phía trước bộ đội nhảy xuống đánh, thì quay xe lại chuyển tải anh em đi bộ lên tiếp...".
Không đủ thẩm quyền giải quyết vấn đề, phái viên Lâm Hà phải quay về báo cáo Bộ Tư lệnh Mặt trận. Nhưng chỉ 1 giờ sau, ông quay lại với mệnh lệnh mới:
"Một là Quân đoàn 4 chiếm toàn bộ thủ đô Phnom-Pênh, bao gồm cả sân bay Pô-chen-tông, chứ không phải từ cầu Mô-ni-vông lên đến Bộ Tổng Tham Mưu Pôn-Pốt phía nam Hoàng cung như đã qui định cũ; Hai là: N là ngày mai 07.1, chứ không phải là ngày 08.01".
Chuyển hướng chủ yếu, dời ngày N: Quyết định vô cùng chính xác trong Chiến dịch giải phóng Phnom Pênh - Ảnh 4.
Cờ cách mạng 5 ngọn tháp tung bay trên thành phố CămPốt – Campuchia năm 1979.
Như vậy là, so với Kế hoạch ban đầu, hướng tiến công chủ yếu vào Phnom Pênh đã được chuyển giao cho Quân đoàn 4 thay vì Quân đoàn 2 và Quân khu 9 như trước. Bên cạnh đó, thời gian tiến công Phnom Pênh cũng được đẩy sớm lên 01 ngày.
Đúng như dự liệu của Phó Tư lệnh Bùi Cát Vũ, lực lượng phòng thủ thủ đô của Khmer Đỏ không quá mạnh, chủ yếu là phòng ngự lâm thời và vào 12 giờ ngày 07.01.1979 Quân đoàn 4 cùng Binh đoàn 1 MTĐTCNK đã làm chủ hoàn toàn Thủ đô Phnom Pênh.Được lời như cởi tấm lòng, ngay trong đêm 6.1.1979, với sự trợ giúp của Trung đoàn Hải quân 962, phần lớn lực lượng của Sư đoàn Bộ binh 7 và Lữ đoàn Tăng thiết giáp 22 đã qua được sông Mekong và lập tức chuyển sang tiến công về hướng Phnom Pênh.
Bài học rút ra ở đây là: Kế hoạch dù cụ thể đến đâu cũng không thể sát với thực tế 100% được. Và người chỉ huy trên chiến trường cần phải hết sức linh hoạt, quyết đoán đưa ra quyết định thích hợp tùy theo thực tế đòi hỏi mới có thể giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất với tổn thất thấp nhất.
Bài viết có sử dụng một số tư liệu trong cuốn "Đường vào Phnom Pênh"- Hồi ký của Thiếu tướng Bùi Cát Vũ, nguyên Phó Tư lệnh Quân đoàn 4

CUỘC HÀNH QUÂN THẦN TỐC ĐẦY BÃO TỐ CỦA LỮ ĐOÀN XE TĂNG 203



Cuộc hành quân thần tốc đầy bão tố của Lữ đoàn xe tăng 203: Tiêu diệt Khơ me Đỏ
Lữ đoàn xe tăng 203 ngày càng phát triển. Ảnh minh họa: QPVN.

Sẩm tối 20.12.1978, hai tàu rời cảng. Gió Đông Bắc mạnh đến cấp 10, tàu rung lắc dữ dội. Đặc biệt, trên tàu 403 toàn bộ "tăng-đơ" cố định xe bị đứt, 100% lính xe tăng say sóng...

Lữ đoàn xe tăng 203 nhận nhiệm vụ mới
Sau khi thực hiện thành công cuộc hành quân "Thần tốc" hơn 1000 km và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2 về trú quân tại Long Bình tham gia truy quét FULRO tại Lâm Đồng và củng cố địa bàn.
Tháng 6.1976, chấp hành mệnh lệnh của Bộ và Bộ tư lệnh quân đoàn, Lữ đoàn cơ động về đứng chân tại khu vực Ấp 5, xã Thủy Phương, Hương Thủy, Thừa Thiên Huế. Về vị trí mới, lữ đoàn tập trung huấn luyện- sẵn sàng chiến đấu và xây dựng đơn vị.
Tiếp nhận một khu doanh trại cũ của quân đội Việt Nam cộng hòa (VNCH) đã xuống cấp nặng nề, cán bộ chiến sĩ toàn lữ đoàn đã tích cực lao động cải tạo các công trình cũ, xây dựng các công trình mới để nhanh chóng ổn định nơi ăn ở, đồng thời củng cố trang bị vũ khí và giúp bạn Lào tiễu phỉ ở Xa Van Na Khẹt.
Trước hành động gây hấn của bọn phản động Khơ me Đỏ tại khu vực biên giới Tây Nam, cuối năm 1978 Bộ chỉ huy tối cao đã quyết định sẽ ra quân trừng trị chúng đồng thời giúp nhân dân bạn thoát khỏi tai họa diệt chủng theo lời kêu gọi của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Căm- pu- chia.
Để tăng cường lực lượng cho các đơn vị phía Nam làm nhiệm vụ, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định điều động Quân đoàn 2, trong đó có Lữ đoàn xe tăng 203 vào tham gia chiến đấu trên hướng tác chiến của Quân khu 9.
Ngày 28.11.1978, Lữ đoàn XT 203 chính thức nhận nhiệm vụ chuẩn bị xe máy, trang bị vũ khí, sẵn sàng nhận lệnh lên đường. Vậy là trước mắt lữ đoàn là một cuộc hành quân "Thần tốc" lần thứ hai.
Ngày 16.12.1978, quyền Lữ đoàn trưởng Trần Minh Công và một số cán bộ chủ chốt các cơ quan lữ đoàn cùng thủ trưởng quân đoàn đáp máy bay từ Phú Bài vào biên giới Tây Nam để trinh sát thực địa, chuẩn bị chiến trường.
Ngày 19.12.1978, toàn bộ lực lượng của lữ đoàn bắt đầu cơ động dưới sự chỉ huy của Chính ủy Bùi Văn Tùng và Tham mưu trưởng Phạm Ngọc Bảng.
Cuộc hành quân thần tốc đầy bão tố của Lữ đoàn xe tăng 203: Tiêu diệt Khơ me Đỏ - Ảnh 1.
Quân tình nguyện Việt Nam truy kích quân Khơ me Đỏ.
Cuộc hành quân thần tốc đầy sóng gió
So với cuộc hành quân Thần tốc lần thứ nhất, cuộc hành quân Thần tốc lần này có nhiều điểm khác biệt. Nếu như cuộc hành quân lần thứ nhất chỉ có đi đường bộ thì cuộc hành quân lần này là đa phương tiện; quãng đường hành quân cũng dài hơn và xe máy trang bị cũng cũ kỹ hơn...
Với kinh nghiệm rút ra từ cuộc hành quân Thần tốc lần thứ nhất, lữ đoàn đã xây dựng kế hoạch cơ động rất cụ thể, tỷ mỷ đồng thời hiệp đồng chặt chẽ với các cơ quan đơn vị liên quan để thực hiện nhiệm vụ.
Theo đúng kế hoạch, đêm 19.12.1978 toàn bộ lữ đoàn lên đường. Khối 1 sau khi vượt đèo Hải Vân, toàn bộ tăng thiết giáp tập kết ở quân cảng Đà Nẵng. Tại đây, các xe tăng thiết giáp được đưa lên hai tàu đổ bộ HQ501 và HQ403.Ngoài đoàn cán bộ đi bằng máy bay, lực lượng còn lại của lữ đoàn chia làm 2 khối: Khối 1 bao gồm các đơn vị xe tăng, xe thiết giáp sẽ hành quân bộ theo Quốc lộ 1 vào Đà Nẵng để đi tàu thủy theo kế hoạch của Bộ và quân chủng Hải Quân; Khối 2 gồm cơ quan và các đơn vị trực thuộc sẽ hành quân bằng ô tô vào vị trí tập kết.
Tàu HQ-501 còn có tên là chiến hạm Trần Khánh Dư thuộc lớp LST-542 có trọng lượng toàn tải khoảng 3.640 tấn, từng thuộc biên chế của Hải quân Hoa Kỳ trước khi được bàn giao cho VNCH. Sau 30.4.1975 thuộc biên chế của Hải quân nhân dân Việt Nam. Tàu HQ403 thì nhỏ hơn, toàn tải chỉ có 800 tấn.
Cuộc hành quân thần tốc đầy bão tố của Lữ đoàn xe tăng 203: Tiêu diệt Khơ me Đỏ - Ảnh 3.
Xe tăng lội nước PT-76 và chiến sĩ hải quân đánh bộ huấn luyện chiến đấu
Sẩm tối 20.12.1978, hai tàu rời cảng nhằm hướng Nam thẳng tiến. Đúng dịp gió mùa Đông Bắc thổi mạnh, có lúc lên đến cấp 10 nên sóng rất to, tàu rung lắc dữ dội. Đặc biệt, trên tàu 403 toàn bộ "tăng- đơ" cố định xe bị đứt, 100% lính xe tăng say sóng...
Sau gần 2 ngày đêm vật vã vượt qua sóng gió đại dương, tàu chạy vào sông Tiền rồi lại sang sông Hậu và sáng 23.12.1978, tàu cập cảng Trà Nóc (Cần Thơ). Tại cảng, xe tăng thiết giáp được đưa lên bờ.
Tiếp đó, toàn bộ xe tăng thiết giáp được chuyển tâỉ bằng tàu "tăng- kít" đến bến Cây Me gần thị trấn Tri Tôn (An Giang). Cứ tàu cập bến, xe lên bờ là ngay lập tức có người dẫn đường chạy về khu vực núi Cấm (thuộc huyện Tịnh Biên, An Giang). Đây chính là vị trí tập kết chiến dịch của lữ đoàn.
Trong lúc đó, bộ phận hành quân bộ cũng đã tới nơi và tổ chức tiếp nhận Tiểu đoàn thiết giáp 10 của Quân khu IX vào đội hình chiến đấu. Chiếc xe cuối cùng của lữ đoàn về đến vị trí tập kết chiến dịch là chiều 25.12.1978.
Từ ngày 26.12.1978 toàn lữ đoàn bắt tay vào củng cố trang bị vũ khí, bổ sung nhiên liệu dầu mỡ... đồng thời tổ chức trinh sát thực địa, làm kế hoạch chiến đấu, tổ chức hiệp đồng giữa các bộ phận để rồi ngày 3.1.1979 cùng quân đoàn nổ súng đánh địch.
Đây chính là cuộc hành quân "Thần tốc" lần thứ hai của lữ đoàn trong vòng hơn 3 năm.Như vậy là chỉ trong vòng 1 tuần (từ 19 đến 25.12), toàn bộ Lữ đoàn XT 203 với hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp đã cơ động bằng nhiều loại phương tiện vượt hơn 1.000km để có mặt tại cực Nam Tổ quốc tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế, tiêu diệt chế độ diệt chủng Khơ me Đỏ.
Có được thành công như vậy là nhờ sự chỉ đạo sát sao của các cơ quan cấp trên, sự hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bạn và đặc biệt là từ những kinh nghiệm của cuộc hành quân "Thần tốc" lần thứ nhất tháng 4.1975.

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2018

NHỮNG QUẢ BOM BA CÀNG VÀ LỜI THỀ CẢM TỬ

Bom ba càng có cấu tạo như thế nào?
Bom ba càng là loại vũ khí diệt xe tăng thế hệ đầu tiên. Nó ra đời vào đầu Thế chiến thứ II, khi các loại súng phóng lựu chống tăng chưa được phổ biến. Trong các quân đội tham gia Thế chiến II, quân đội Nhật được biết đến là quân đội sử dụng bom ba càng phổ biến nhất.
Sức công phá của bom ba càng dựa trên nguyên lý "năng lượng lõm"- nguyên lý được vận dụng trong hầu hết các loại đầu đạn hoặc tên lửa chống tăng sau này.
Cấu tạo của bom ba càng gồm có: phễu thuốc nổ hình nón, miệng phễu có đường kính khoảng hơn 20 cm, bên trong nhồi từ 7- 10 kg thuốc nổ mạnh. Trên mặt phễu có vành gang gắn 3 càng sắt- thực chất là kíp nổ (do trình độ chế tạo kíp nổ lúc đó còn thô sơ nên người ta lắp hẳn 3 cái cho đảm bảo).
Vũ khí Nhật trong tay Việt Nam khiến Pháp khiếp sợ - Ảnh 1.
Sức công phá của bom ba càng dựa trên nguyên lý "năng lượng lõm".
Dưới đáy phễu là bộ phận gây nổ, gồm: hạt nổ, kim hỏa và chốt hãm an toàn. Bom được lắp vào một cây gậy gỗ dài 1,2m. Với hình dạng như vậy, người ta gọi nó là "bom ba càng".
Khi muốn tiêu diệt xe tăng đối phương, người lính sử dụng bom một tay nắm (nâng) nơi tiếp giáp đuôi bom và gậy, tay còn lại nắm chắc 2/3 của gậy, mặt bom chếch 45 độ về phía trước, cách mục tiêu 2 - 3m hạ bom ngang tầm vai hai tay lao bom vào vị trí đã chọn.
Vị trí tối ưu khi đánh bom phải bảo đảm ba càng bom cùng lúc chạm trên mặt phẳng của mục tiêu. Cụ thể, xe tăng, xe bọc thép bánh hơi chọn nơi thành bên hông xe, dưới tháp pháo; xe half-truck nơi thành xe phía giáp cửa lên xuống, sát buồng lái trên nơi gắn thùng nhiên liệu để bộ phận gây nổ kích nổ chuẩn xác.
Vũ khí Nhật trong tay Việt Nam khiến Pháp khiếp sợ - Ảnh 2.
Chiến sĩ cảm tử ôm bom ba càng chặn đánh xe tăng địch. Ảnh: TTXVN.
Khi bom bị kích nổ, do nguyên lý nổ lõm, năng lượng nổ của khối thuốc nổ tập trung hình thành một "luồng xuyên" với vận tốc, áp suất và nhiệt độ rất cao xuyên phá lớp giáp của xe tăng, gây áp lực cháy nổ rất lớn làm nhiên liệu và đạn trên xe cùng bị kích nổ.
Tuy nhiên, khi bom nổ một phần năng lượng dội về phía sau gây ra sức ép lên người chiến sĩ đánh bom, nó thường hất người đánh bom ngã ngửa về phía sau, nhẹ thì bị thương, còn nặng thì có thể hy sinh.
Chính vì vậy, những chiến sĩ sử dụng bom ba càng diệt tăng địch thường là những chiến sĩ cảm tử bởi họ biết rằng cơ hội sống sót của mình gần như bằng không. Điều đó rất phù hợp với tinh thần của các võ sĩ sa- mu- rai Nhật Bản nên việc sử dụng bom ba càng trong quân đội Nhật là phổ biến nhất.
Cuộc chiến đấu của những chiến sĩ cảm tử trên đường phố Hà Nội
Trước những âm mưu và hành động trắng trợn của Pháp, ngày 18, 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp mở rộng tại một ngôi nhà ở làng Vạn Phúc – Hà Đông và quyết định phát động toàn quốc kháng chiến vào 20 giờ ngày 19/12/1946.Cuộc chiến đấu không cân sức giữa ta và Pháp diễn ra rất quyết liệt ngay từ những ngày đầu, bộ đội Việt Minh với vũ khí thô sơ vàít ỏi chống lại đội quân thiện chiến của Pháp với vũ khí hiện đại đã diễn ra ác liệt.Tại Hà Nội, công sự, chiến lũy được dựng lên khắp mọi nơi, tất cả mọi lực lượng, với mọi loại vũ khí trong tay tích cực tham gia kháng chiến. Thanh niên nam nữ của 36 phố phường đã cùng Vệ quốc đoàn, Công an xung phong, Tự vệ chiến đấu... đứng lên đánh Pháp theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Vũ khí Nhật trong tay Việt Nam khiến Pháp khiếp sợ - Ảnh 4.
Bom ba càng đã trở thành huyền thoại, từng khiến kẻ thù khiếp sợ.
Lúc đó, toàn mặt trận Hà Nội, tính cả tự vệ thì Việt Minh có khoảng hơn 2.000 cây súng với rất ít đạn. Mỗi tiểu đoàn Việt Minh chỉ có 2 đến 3 khẩu trung liên, từ 2 đến 3 khẩu tiểu liên và carbin, còn lại toàn là súng trường mà cũng không đủ, đạn thì thiếu, lựu đạn cũng ít...
Để đối phó với xe tăng, xe thiết giáp của Pháp, các lực lượng Việt Minh chủ yếu sử dụng bom ba càng. Đây là số bom ba càng thu được khi Việt Minh giải giáp quân Nhật. Có gần 100 quả bom ba càng đã được trang bị cho khoảng 10 "đội cảm tử" được thành lập trên mặt trận Hà Nội.
Sở dĩ phải thành lập các "đội cảm tử" bởi những người lính dùng bom ba càng diệt xe tăng địch phải là những chiến sĩ mưu trí, quả cảm, sẵn sàng hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ. Trong trận Hà Nội 1946, chừng 10 tổ cảm tử quân được thành lập, với tổng cộng khoảng 100 đội viên.
Họ được gọi là quyết tử quân, khác với đa số chiến sĩ tham gia chỉ được gọi là Vệ quốc quân hoặc tự vệ Hà Nội. Họ thường mặc áo trấn thủ, đeo khăn đỏ, cầm bom ba càng, có khi được tổ chức truy điệu sống trước khi xung trận.
Được chọn vào đội cảm tử quân là niềm vinh dự với họ khi đó, và họ cũng là sự động viên tinh thần lớn cho quân dân trước sức mạnh quân sự của Pháp.
Ngoài tinh thần quyết tử, để diệt được xe tăng địch người chiến sĩ sử dụng bom ba càng cũng cần hết sức mưu trí, sáng tạo và phải giữ được yếu tố bí mật bất ngờ.
Khi xuất kích, tiếp cận mục tiêu chiến sĩ phải được sự yểm trợ tối đa của hỏa lực, khống chế, vô hiệu hóa hỏa lực trên xe tăng và áp đảo tiêu diệt lực lượng bộ binh đi cùng.
Ðánh bom động tác phải dứt khoát, chuẩn xác, phải có tổ cứu hộ sẵn sàng ở phía sau. Khi chiến sĩ đánh bom bị sức ép của bom hất ngã ra sau sẽ ngay lập tức xông ra dìu chiến sĩ đánh bom vào nơi an toàn.
Thông thường người chiến sĩ sẽ hy sinh sau khi bom nổ vì bị sức ép và hơi nóng táp vào người, nhưng cũng có trường hợp cá biệt đánh được nhiều lần. Trong một số tổng kết có nói đến một số chiến sĩ đánh cháy vài xe tăng bằng bom ba càng mà vẫn còn sống.
Các phóng viên ngày đó đã ghi lại được một bức ảnh "cảm tử quân Hà Nội ôm bom ba càng đón đánh xe tăng địch trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, 12/1946". Theo ông Nguyễn Văn Tỉnh (tức Nguyễn Văn Lang, anh ruột chiến sĩ cầm bom ba càng) kể lại:
"Người chiến sỹ trong ảnh là anh Nguyễn Văn Thiềng, bí danh Trần Thành Thiềng, sinh năm 1927, tại số nhà 44 Hàng Vôi, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Anh là đoàn viên thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu, đã tốt nghiệp Trường Quân chính Bắc Sơn được biên chế về Tiểu đoàn 212, đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ Bộ Tổng tham mưu.
Ngay chiều hôm đó, địch lại cho xe tăng và bộ binh mở cuộc tiến công lớn vào trận địa của ta nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực.Ngày 23/12/1946, Pháp cho xe tăng theo đường Bà Triệu tiến đánh trụ sở Bộ Tổng tham mưu của ta, anh Nguyễn Văn Thiềng đã dùng bom ba càng đánh hỏng một xe tăng địch ở ngã tư Bà Triệu – Trần Quốc Toản.
Anh Thiềng tiếp tục đánh bom ba càng nhưng bom không nổ, lính Pháp trên xe tăng bắn liên tiếp về phía anh, anh đã hy sinh ngay trong trận đánh. Thi hài của anh được chôn cất cẩn thận ngay tại sân sau Bộ Tổng tham mưu".
Hình ảnh người chiến sĩ cảm tử ôm bom ba càng chặn đánh xe tăng địch cùng lời thề "cảm tử cho Tổ Quốc quyết sinh" sẽ còn sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2018

ALFRED NOBEL- BÁC HỌC THIÊN TÀI HAY "KẺ BUÔN BÁN TỬ THẦN"

Alfred Nobel là thiên tài hay "Kẻ buôn bán tử thần"?

Nobel là giải thưởng danh giá bậc nhất TG và tiền thưởng lên tới trên dưới 1 triệu USD. 

Tuy nhiên, không phải ai cũng biết sự ra đời của giải thưởng này có xuất phát điểm từ bi kịch của một thiên tài.
Alfred Nobel - thiên tài về kỹ thuật và thương mại
Alfred Nobel sinh ngày 21.10.1833 ở Stockholm, Thụy Điển, trong một gia đình toàn kỹ sư. Ông là một nhà hóa học, kỹ sư, nhà phát minh đồng thời là một thương gia giỏi. Ông từng có tới 355 bằng sáng chế; phát minh ra nhiều vật liệu hoá học khác nhau như cao su và da tổng hợp, tơ nhân tạo, một số loại thuốc nổ...
Nhiều người lầm tưởng ông là nhà phát minh ra thuốc nổ và nhờ ông nhân loại mới biết đến thuốc nổ song không phải vậy! Thực ra, nhân loại đã biết đến thuốc nổ từ lâu, thậm chí người Trung Quốc còn phát minh ra thuốc nổ đen từ hàng nghìn năm trước.
Giá trị các phát minh của Nobel là tìm ra các chất phụ gia thích hợp và công thức pha chế phù hợp để chế tạo các loại thuốc nổ an toàn sử dụng trong phá đá, đào kênh, khai thác hầm mỏ cũng như sản xuất đạn dược, bom mìn... trên quy mô công nghiệp.
Alfred Nobel là thiên tài hay Kẻ buôn bán tử thần? - Ảnh 1.
Khánh thành tượng Nobel tại Trường đại học Alfred Nobel.
Năm 20 tuổi, Nobel bắt đầu nghiên cứu về thuốc nổ Nitroglycerin - loại thuốc nổ vốn được phát minh từ năm 1846 nhưng vì chưa thể khống chế và sử dụng nó một cách an toàn nên chưa có ứng dụng thực tế. Sau 3 năm nghiên cứu, ông đã tìm ra cách khống chế nó và cho ra đời loại thuốc nổ an toàn có tên là Dynamite.
Nobel cũng phát minh ra các loại thuốc nổ như Blasting gelatin, ballistite... Sáng chế này là tiền thân của nhiều vật liệu nổ không khói dùng trong quân đội, đặc biệt là bột chất nổ không khói của người Anh.
Alfred Nobel là thiên tài hay Kẻ buôn bán tử thần? - Ảnh 2.
Sau đó, Nobel thành lập một công ty thuốc nổ. Các sản phẩm của ông phục vụ hữu ích cho đời sống (phá núi, đào kênh, khai mỏ…). Khi xảy ra chiến tranh, nhu cầu về thuốc nổ tăng vọt, công ty của Nobel phất lên như diều gặp gió.
Là một người có đầu óc kinh doanh ông đã mở xưởng tại nhiều nước, phát triển thị trường thuốc nổ và vũ khí rộng rãi. Nhờ vậy, Nobel đã trở thành một trong những triệu phú giàu có nhất thế giới thời bấy giờ.
Những bi kịch của một thiên tài và sự ra đời của một giải thưởng
Là một thiên tài nổi tiếng và giàu có song cuộc đời Nobel cũng gặp phải nhiều bi kịch.
Bi kịch đầu tiên đến với ông ngày 3.9.1864, nhà máy của Nobel phát nổ, làm 5 người thiệt mạng, trong đó có cả Emil, em trai ông. Sau lần tai nạn đó, thuốc nổ hầu như bị mọi người bác bỏ, nhưng Nobel quyết không từ bỏ ý định chế tạo thuốc nổ và quyết tâm làm cho nó an toàn hơn.
Alfred Nobel là thiên tài hay Kẻ buôn bán tử thần? - Ảnh 3.
Alfred Nobel.
Nhưng bi kịch lớn nhất đến với ông là khi người anh Ludvig của ông qua đời năm 1888. Rất nhiều tờ báo do nhầm lẫn đã đăng cáo phó của ông với tựa đề "Nhà buôn cái chết đã chết".
Nặng nề hơn báo chí còn viết: "Tiến sĩ Alfred Nobel, người đã trở nên giàu có sau khi phát minh ra cách thức giết con người nhanh chóng hơn bao giờ hết, đã qua đời ngày hôm qua."
Tin tức lan rộng nhanh chóng và Alfred Nobel đã nổi tiếng càng nổi tiếng hơn với danh hiệu không hay ho gì: "kẻ buôn bán tử thần". Có lẽ điều này đã khiến Nobel bất ngờ và làm ông lo ngại về việc ông sẽ được ghi nhớ ra sao sau khi ông chết.
Thực ra, những phát minh sáng chế của ông trước hết đều nhằm phục vụ cho con người như khai thác hầm mỏ, phá núi, đào kênh... Song khi chiến tranh nổ ra, nó cũng được con người sử dụng vào mục đích giết người ngoài ý muốn của ông.
Và có lẽ chính vì điều đó mà ông quyết định giành phần lớn tài sản của mình (94% tổng tài sản- khoảng 186 triệu USD hay 150 triệu € tính theo thời giá 2008) để tạo ra một loạt các giải thưởng cho những người trao "lợi ích lớn nhất cho nhân loại".
Sau khi ông mất (ngày 10.12.1896), Viện Hàn lâm Thụy Điển và Uỷ ban Giải thưởng của Quốc hội Na Uy đã lập ra giải thưởng Nobel theo di chúc của ông.
Alfred Nobel là thiên tài hay Kẻ buôn bán tử thần? - Ảnh 4.
3 trong số các nhà khoa học được trao giải Nobel 2018.
Giải thưởng Nôben được trao tặng vào ngày 10.12 hằng năm, bắt đầu từ 1901, cho những người có cống hiến xuất sắc trong các lĩnh vực khoa học, chính trị xã hội, văn học. Lúc đầu, theo di chúc của Nobel, chỉ có 5 giải thưởng về vật lí, hoá học, sinh học và y học, văn học, hoà bình. Năm 1968, bổ sung thêm một giải về khoa học kinh tế.
Tuy nhiên cho đến nay, không hề có bằng chứng nào ủng hộ điều này. Âu đó cũng là một bi kịch của ông?Nhiều người thắc mắc tại sao không có giải thưởng về toán học. Có tin đồn sở dĩ Nobel không đặt ra giải thưởng này là bởi người phụ nữ ông yêu đã từ bỏ ông để đi theo nhà toán học nổi tiếng Gosta Mittag Leffler.
Từ khi bắt đầu thực hiện đến nay, đã có khoảng 750 người được nhận giải thưởng này. Cơ cấu giải thưởng gồm 1 huy chương Nobel và một khoản tiền - theo thời giá hiện nay là trên 1 triệu USD. Giải thưởng không những là một vinh dự cho cá nhân được giải mà còn mang lại vinh quang cho Tổ quốc của người đó.
Không chỉ vậy, Nobel - nhà khoa học, nhà kinh doanh tài ba đã để lại cho nhân loại ngày nay một thông điệp về mục đích chân chính của khoa học: "phải phục vụ lợi ích con người".

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2018

ĐỒNG NGŨ

47 năm về trước
Cũng một sáng mùa đông
Tái tê cơn gió bấc
Tái tê những cõi lòng

43 chàng trai trẻ
Của miền đất Chí Linh
Sẽ lên đường nhập ngũ
Vào làm lính xe tăng

Huấn luyện có 3 tháng
Đã lên đường đi B
Quảng Trị miền đất lửa
5 thằng mãi không về

Giờ cứ ngày nhập ngũ
Lại tìm về với nhau
Nhớ về thằng đã mất
Thương nhau bạc cả đầu

Mỗi năm một thêm vắng
Bởi quy luật cuộc đời
Nhưng chỉ cần còn sống
Vẫn gặp, vẫn vui cười.

08.12.2018
Trong hình ảnh có thể có: 17 người, bao gồm Thanh Minh Le, Phuc Nguyen, Hiep Pham, Hoan Khuất, Quý Lăng Nguyễn, Dương Thành, Nguyễn Đại Đồng, Nguyễn Khắc Nguyệt, Hoe Quang và Khanh Hoangkhanh, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và ngoài trời

Trong hình ảnh có thể có: 16 người, bao gồm Hoan Khuất và Nguyễn Khắc Nguyệt, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và bộ vét

Trong hình ảnh có thể có: 4 người, mọi người đang ngồi và bộ vét

Trong hình ảnh có thể có: 5 người, mọi người đang đứng và bộ vét

Trong hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang ngồi, bàn và trong nhà

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

BỘ ĐỘI- GIÁO VIÊN- NHỮNG CẶP ĐÔI HOÀN HẢO

Đến tận bây giờ, cặp đôi Bộ đội - Giáo viên được coi như một "cặp đôi hoàn hảo". Quan niệm đó hoàn toàn toàn không phải ngẫu hứng của một ai mà có cơ sở của nó.


Cô giáo - Anh bộ đội: Từ sự đối nghịch 180 độ
Đó là sự đối nghịch về môi trường làm việc mặc dù họ đều là viên chức của Nhà nước!
Trong khi các cô giáo thường xuyên được làm việc ở một địa điểm ổn định (tất nhiên là tương đối) thì những người lính thường không tự quyết định được đơn vị, địa điểm công tác của mình. Có thể hôm nay họ đang ở thành phố lớn song ngày mai rất có thể họ dã có mặt nơi biên giới, hải đảo xa xôi theo yêu cầu nhiệm vụ.
Trong khi hầu hết các cô giáo thường xuyên được làm việc trong lớp học, "mưa không đến mặt, nắng không đến đầu" thì môi trường làm việc thường xuyên của những người lính là thao trường, bãi tập bất chấp nắng mưa.
Trong khi các cô giáo được vui vẻ chưng diện (dù có thể rất khiêm tốn) những bộ quần áo đẹp, thời trang khi lên lớp thì những người lính bốn mùa chỉ có chung thân bộ quân phục sẫm màu hoặc trang phục dã ngoại lấm lem bùn đất, khét mù mùi dầu mỡ, mồ hôi...
Trong khi đối tượng làm việc của các cô giáo là lớp măng non của đất nước để chuẩn bị cho tương lai thì đối tượng quản lý trực tiếp của những người lính lại là những người đồng đội cấp dưới của mình. Và đối tượng mà người lính phải quan tâm, nghiên cứu và sẵn sàng đối phó chính là kẻ thù (có thể) của Tổ quốc.
Trong khi các cô giáo dù vất vả đến đâu cũng chắc chắn rằng mình sẽ có mấy tháng nghỉ Hè, nghỉ Tết thì người lính tuy cũng có "phép năm" nhưng hơn chục ngày phép đó sẵn sàng bị cắt bất cứ lúc nào theo yêu cầu nhiệm vụ. Và tất nhiên, ngày nghỉ cuối tuần đưa bạn gái đi chơi thường vẫn chỉ là mơ ước của những anh lính xa nhà.
Giáo viên - Bộ đội: Những cặp đôi hoàn hảo - Ảnh 1.
Vợ chồng bộ đội trước lúc chia tay. Ảnh minh họa: Báo Quảng Bình.
Đến "cặp đôi hoàn hảo" và những căn nguyên của nó
Còn, còn rất nhiều sự đối nghịch nữa nếu đi vào chi tiết. Nhưng bên cạnh sự đối nghịch đó, giữa họ lại có rất nhiều sự đồng nhất và cảm thông vô cùng lớn.
Trước hết, đó là chất lý tưởng trong công việc, trong nhiệm vụ của mỗi người.
Trong khi các cô giáo tự hào bởi: "tâm hồn em tươi mát xanh như bóng lá bàng trái tim em đỏ nhiệt tình như hoa phượng vĩ như chim bay về khắp miền em lên đường tung bay xây nhiều thế hệ cháu Bác Hồ. Tự hào như em người chiến sĩ văn hóa lớn lên trong chiếc nôi quê hương Việt Nam".
Giáo viên - Bộ đội: Những cặp đôi hoàn hảo - Ảnh 2.
Thì những người lính cũng có niềm tự hào bởi cuộc đời họ từ khi khoác lên mình bộ quân phục màu xanh là tự nguyện "Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh...". Họ sẵn sàng dâng hiến cuộc đời mình cho độc lập của Tổ quốc, sự bình yên hạnh phúc của nhân dân.
Thứ nữa, họ đều là những đối tượng có thu nhập thấp- hay nói khác đi là người nghèo trong xã hội.
Trong khi các doanh nhân, các cán bộ có chức có quyền, các cô mậu dịch viên thời bao cấp, các diễn viên, người mẫu và những người làm ở những nghề "hái ra tiền"... là những hot boy, hot girl của thời đại thì họ chỉ là những người chỉ biết trông vào số tiền lương "ba cọc, ba đồng". Có lẽ cũng vì vậy mà họ có sự thông cảm sâu sắc với nhau hơn.
Song tuy nghèo nhưng họ lại là những con người có tâm hồn thật sự lãng mạn và bay bổng.
Nếu như các cô giáo vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn song vẫn vui vẻ "Tiếng em nói nhen nhóm bao mơ ước lý tưởng, tiếng kiêu hùng của lịch sử cha ông dựng nước, em đi gieo hạt giống đẹp bao tâm hồn noi gương anh hùng cách mạng chiếu sáng ngời..."
Thì những người lính, trên đường hành quân gian khổ hay giữa chiến trường khốc liệt vẫn có những khoảng bình yên, lắng đọng: "Bạn tôi cho hay, sau này xong chiến đấu; Sẽ lên nông trường, sớm hôm trên đồng lái máy cày; Còn tôi mong sao, bao ngày tôi đang sống; Sẽ không bao giờ mờ nhạt mai sau".
Bởi chưng cuộc sống đậm đặc chất lý tưởng và lãng mạn như vậy, cô giáo và người lính cũng là những người luôn giữ được lòng tin tưởng về nhau dù cách xa ngàn trùng:
"Ngày và đêm xa nhau đâu chỉ dài và nhớ,Thời gian trong cách trở đốt cháy lửa tình yêu. Pháo anh lên đồi cao nã vào đầu giặc Mỹ, Bục giảng dưới hầm sâu em cũng là chiến sĩ. Cái chết cúi gục đầu, Cuộc đời xanh tươi trẻ ngày đêm ta bên nhau..."
Ngoài ra, những người lính xa nhà biền biệt luôn mong mỏi có một người thay mặt mình dạy dỗ những đứa con. Và nhân vật "lý tưởng" cho mong mỏi đó không ai hơn chính là các cô giáo- những người có môi trường làm việc tương đối ổn định, lại có nghề sư phạm trong tay.
Tất nhiên, còn nhiều lý do nữa song thế cũng tạm đủ cho một "cặp đôi hoàn hảo" giữa các cô giáo và người lính.
Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11, xin kính chúc các cặp đôi hoàn hảo "Giáo viên- Bộ đội" hạnh phúc và thành công.
(Bài viết có sử dụng lời các ca khúc: Bài ca người giáo viên nhân dân của NS Hoàng Vân; Vì nhân dân quên mình của NS Doãn Quang Khải; Đồng đội của NS Hoàng Hiệp; Hành Khúc Ngày Và Đêm của NS Phan Huỳnh Điểu).