Thứ Năm, 10 tháng 5, 2018

GIẢI PHÓNG "ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN" KHÔNG TỐN MỘT VIÊN ĐẠN

Giải phóng "Địa ngục trần gian" Côn Đảo không tốn một viên đạn: Chiến công ngoạn mục!
Cùng với việc xây dựng nhà tù, chế độ giam cầm khổ ải và tra tấn cực hình đã biến Côn Đảo mộng mơ trở thành "địa ngục trần gian".

Việc đưa lực lượng ra tiếp quản, bảo vệ Côn Đảo đồng thời đưa tù nhân về đất liền đã được quyết định ngay chiều ngày 1.5.1975- khi tiếng súng vừa mới tạm yên trên các mặt trận.

Vốn là một quần đảo nhỏ hoang sơ và xinh đẹp nằm ở phía Đông Nam biển Đông nhưng Côn Đảo không được thơ mộng như những gì tạo hóa đã bạn cho nó. Sau khi hoàn tất việc xâm lược Việt Nam, ngày 1.2.1862, Thống đốc Bonard ở Nam Kỳ ký quyết định thành lập nhà tù Côn Đảo để giam cầm những người yêu nước Việt Nam.
Với mục đích đó, một hệ thống nhà tù với nhiều khu vực biệt giam, chuồng cọp, chuồng bò... được xây dựng lên tại đây từ thời Pháp thuộc sang đến thời Mỹ xâm lược. Cùng với việc xây dựng nhà tù, chế độ giam cầm khổ ải và tra tấn cực hình đã biến Côn Đảo mộng mơ trở thành "địa ngục trần gian".
Tính đến 30.4.1975, nhà tù Côn Đảo đã tồn tại được hơn 100 năm. Trong thời gian đó đã có khoảng 20.000 người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ đã bị giam cầm, hy sinh tại nơi đây.
Giải phóng Địa ngục trần gian Côn Đảo không tốn một viên đạn: Chiến công ngoạn mục! - Ảnh 1.
Trại giam Phú Tường, Côn Đảo - nơi nổi tiếng với "chuồng cọp", được xây dựng năm 1940, với diện tích hơn 5.000 m2 gồm 120 phòng giam có chấn song sắt phía trên, 60 phòng "tắm nắng" không có mái che.
Vào thời điểm cuối tháng 4.1975, Nhà tù Côn Đảo đang giam cầm 7.448 tù nhân, trong đó có 4.234 tù chính trị bị cấm cố trong 8 trại giam. Về phía Việt Nam cộng hòa, lực lượng binh lính, cai ngục và viên chức ở đây có khoảng 400 người do Đại tá Lâm Hữu Phương chỉ huy.
Sự an toàn của các tù nhân Côn Đảo luôn đau đáu trong lòng các tướng lĩnh ở Tổng hành dinh. Vì vậy, chiều 1.5.1975, tại cuộc họp Quân ủy trung ương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhắc nhở "Bộ Tổng Tham mưu nhanh chóng giải quyết số quân địch ở đồng bằng sông Cửu Long và các đảo Côn Sơn, Phú Quốc, đón anh chị em tù chính trị trở về".
Dường như các ý tưởng lớn thường gặp nhau, những người tù Côn Đảo đã không bó tay chờ đợi.
Giải phóng Địa ngục trần gian Côn Đảo không tốn một viên đạn: Chiến công ngoạn mục! - Ảnh 2.
Mặc dù bị giam cầm trong những điều kiện vô cùng khắc nghiệt song kẻ địch vẫn không phuất phục được tinh thần yêu nước của những tù nhân nơi đây.
Gió đã đổi chiều
Mặc dù bị giam cầm trong những điều kiện vô cùng khắc nghiệt song kẻ địch vẫn không phuất phục được tinh thần yêu nước của những tù nhân nơi đây. Trong lòng họ lúc nào cũng âm ỉ cháy một ngọn lửa yêu nước thương nòi và một niềm tin vô bờ bến vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Chiều 29.4.1975, được tin Quân giải phóng đã bao vây chặt, Sài Gòn sắp đến giờ thất thủ, ở Côn Đảo diễn ra một cuộc tháo chạy cực lớn.
Bầu trời Côn Đảo náo loạn, máy bay quân sự lên xuống sân bay Cỏ Ống như mắc cửi chở quân, tướng Mỹ, cai ngục đóng tại Côn Đảo di tản ra tàu sân bay đang đón đợi ngoài khơi. Chúa đảo Lâm Hữu Phương cũng theo quan thày bỏ trốn.
Giải phóng Địa ngục trần gian Côn Đảo không tốn một viên đạn: Chiến công ngoạn mục! - Ảnh 3.
Lúc này, Đại úy Phạm Huỳnh Trung nắm quyền chỉ huy đảo đã ra lệnh khóa chặt cửa các trại giam, tổ chức di tản và chuẩn bị thủ tiêu tù chính trị bằng lựu đạn vào giờ chót.
Tình thế đảo ngược khi Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Bọn ác ôn kinh hoàng tháo chạy, dẫm đạp lên nhau tại Cầu Tàu, tranh cướp ghe ra tàu Mỹ di tản
Trong số những sĩ quan, binh lính và viên chức Việt Nam cộng hòa tại đây cũng còn nhiều người tốt. Họ hiểu rằng cái kết cục tất yếu đối với một chính thể tay sai đã tới và họ quyết tâm làm lại cuộc đời.
Nửa đêm 30.4.1975, Đại úy Kiều Văn Dậu, Trưởng ban hành quân cảnh lực và linh mục Phạm Gia Huy đã tháo gỡ lựu đạn gài và mở khóa cửa phòng giam số 24, khu H của Trại 7. Họ thông báo Tổng thống Dương Văn Minh đã đầu hàng Quân giải phóng, hầu hết cai ngục ác ôn đã di tản, đề nghị tù nhân nắm chính quyền để bảo vệ đảo.
Với tinh thần cảnh giác cao độ, để tránh việc mắc mưu kẻ địch các tù nhân trong khám đã yêu cầu đưa radio vào để nắm bắt tình hình. Chỉ đến khi đã xác định chính xác thông tin họ mới bắt tay vào hành động.
Từ lúc đó đến sáng ngày 1.5.1975, toàn bộ 8 trại giam trên "địa ngục trần gian" đã được mở cửa. Những tù nhân gầy gò, ốm yếu, trong những bộ quần áo rách rưới dìu nhau ra hít thở không khí tự do.
Ngay sau khi toàn đảo được giải phóng, một Đảo ủy lâm thời gồm 7 người được thành lập để lãnh đạo thành lập Ủy ban Hòa hợp- Hòa giải nhằm quản lý và giải quyết mọi việc trên đảo, trong đó nhiệm vụ trọng yếu nhất là bảo vệ đảo, bảo vệ an toàn cho tù nhân.
Tới 8 giờ sáng 1.5, thị trấn Côn Đảo đã hoàn toàn thuộc về chính quyền cách mạng. 10 giờ sáng cùng ngày, Đài truyền thanh Côn Đảo phát sóng, đưa bản tin Côn Đảo hoàn toàn giải phóng, công bố danh sách các thành viên Ủy ban Hòa hợp- Hòa giải.
Ngày 2.5.1975, một đài vô tuyến điện được hồi phục, và phát sóng chuyển bức điện đầu tiên từ Côn Đảo vào đất liền, cho tới 15 giờ cùng ngày thì liên lạc được với Thành ủy Sài Gòn - Gia Định.
Khi được hỏi Côn Đảo cần gì để đất liền chi viện ngay, đồng chí đại diện cho Đảo ủy lâm thời đã nghẹn ngào trả lời: "Chúng tôi không cần gì cả. Chúng tôi chỉ cần ảnh Bác Hồ".
Không chỉ có ảnh Bác Hồ, đất liền còn gửi ra cho các anh nhiều hơn thế.
Giải phóng Địa ngục trần gian Côn Đảo không tốn một viên đạn: Chiến công ngoạn mục! - Ảnh 4.
Chuồng Cọp ở Nhà tù Côn Đảo.
Côn Đảo gọi, đất liền đáp lời
Chưa cần nhận được điện của Côn Đảo, việc đưa lực lượng ra tiếp quản, bảo vệ đảo đồng thời đưa tù nhân về đất liền đã được quyết định ngay chiều ngày 1.5.1975- khi tiếng súng vừa mới tạm yên trên các mặt trận. Nhiệm vụ này được giao cho Hải quân và Sư đoàn 3 Sao Vàng- đơn vị vừa giải phóng Vũng Tàu chiều hôm trước.
Về phía Hải quân, Bộ Tư lệnh giao cho đoàn 172 đảm nhiệm nhiệm vụ này. Lúc này, đoàn 172 gồm tàu Đại Khánh, tàu Nhật Lệ, hai tàu chở nước, hai tàu pháo đi bảo vệ cần thiết thì bắn phá mục tiêu quan trọng hỗ trợ quân đổ bộ do đồng chí Nguyễn Xuân Bột chỉ huy.
Về phía Sư đoàn 3 Sao Vàng, nhiệm vụ này được giao cho Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12 được tăng cường các bộ phận trinh sát và hỏa lực, do trung đoàn phó Nguyễn Hồng Sơn và Phó chính ủy Đồng Sĩ Tài chỉ huy.
Đến thời điểm này, đất liền vẫn chưa liên lạc được với Côn Đảo nên chưa nắm được tình hình. Vì vậy, hai bên vẫn xác định đây là cuộc đổ bộ tiến công đánh chiếm đảo. Một kế hoạch chiến đấu chi tiết với các tình huống khác nhau đã được xây dựng lên.
Trong kế hoạch có hai kịch bản chính có thể xảy ra: Thứ nhất, đưa tối hậu thư bắt hàng, nếu thuận lợi thì tiếu đoàn đổ bộ lên nắm các trận địa phòng thủ. Thứ hai, nếu địch không hàng thì hải quân, lục quân đổ bộ chiếm đảo, hết sức tránh không đế tù chính trị phải hy sinh.
Chiều 3.5.1975, Tiểu đoàn 6 cho bộ đội lên tàu. Lúc này, đất liền đã liên lạc được với đảo phiên đầu tiên. Rất nhiều cờ Tổ quốc, cờ giải phóng và ảnh Bác Hồ được đưa lên tàu.
Giải phóng Địa ngục trần gian Côn Đảo không tốn một viên đạn: Chiến công ngoạn mục! - Ảnh 5.
Những chiến sĩ cách mạng kiên trung đã từng bị giam giữ ở "Địa ngục trần gian" Côn Đảo. Ảnh tư liệu.
Sau hơn 14 giờ lênh đênh trên biển, rạng sáng 4.5.1975 đoàn tàu đã đến Côn Đảo. Một tổ trinh sát được phái vào bờ để nắm tình hình. Sau khi bắt được liên lạc, đại biểu đảo ủy đi xuồng ra gặp gỡ chỉ huy tàu thông báo tình hình. Người trên bờ và người trên đảo gặp nhau, tay bắt mặt mừng. Nhiều người không ngăn nổi những giọt nước mắt hạnh phúc.
Sáng 4.5.1975, Tiểu đoàn bộ binh 6 đổ bộ lên đảo trong sự đón chào nồng nhiệt của các tù nhân. Một đám rước chân dung Hồ Chủ tịch khổng lồ được hình thành từ cầu tầu 914 về trung tâm đảo. Ngay sau đó, tiểu đoàn triển khai lực lượng bảo vệ đảo theo phương án đã được phê duyệt.
Giải phóng Địa ngục trần gian Côn Đảo không tốn một viên đạn: Chiến công ngoạn mục! - Ảnh 6.
Bức ảnh lịch sử "Mẹ con ngày gặp mặt" của nhà báo Lâm Hồng Long đã ghi lại một khoảnh khắc của ngày đặc biệt.
Do số lượng tù chính trị thì đông mà phương tiện thì hạn chế nên Đảo ủy lâm thời và Ủy ban Hòa hợp- Hòa giải của đảo phải tổ chức bình xét. Nguyên tắc bình xét là: "Ai có án tử hình mà giặc chưa hành quyết, về trước.
Ai bị giam ở Côn Đảo lâu nhất, về trước. Ai bị địch nhốt ở Chuồng Cọp lâu nhất, về trước. Phụ nữ, già, yếu, bệnh, về trước". Đó là 4 đối tượng được ưu tiên.
Ngày 5.5.1975, chuyến tàu đầu tiên chở tù chính trị rời đảo về đất liền. Có khoảng 600 tù chính trị về chuyến này. Đó là những tù trong diện biệt giam, tử tù, ốm đau, bệnh nặng trong 4 đối tượng kể trên.
Trên đất liền, Ủy ban quân quản Vũng Tàu tổ chức trọng thể cuộc mít tinh tại cảng Rạch Dừa chào đón những người con ưu tú của Tổ quốc vừa chiến thắng trở về. Bức ảnh lịch sử "Mẹ con ngày gặp mặt" của nhà báo Lâm Hồng Long đã ghi lại một khoảnh khắc của ngày hôm đó.
Cuộc giải phóng "địa ngục trần gian" đã hoàn thành thật là ngoạn mục!

Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2018

TẠI SAO ĐẠI ĐỘI PHÓ KỸ THUẬT LẠI ĐI NẠP ĐẠN- CHUYỆN KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT

Xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập: Tại sao đại đội phó kỹ thuật lại đi nạp đạn xe tăng?
Xe tăng của Lữ đoàn 203 đánh chiếm dinh Độc Lập trưa 30.04.1975. Ảnh tư liệu.

Trong các thành viên kíp xe tăng 390 húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập trưa 30/04/1975 có một thành viên khá đặc biệt: Thiếu úy Lê Văn Phượng, Đại đội phó kỹ thuật.

Người tinh ý một chút sẽ đặt câu hỏi: Tại sao đại đội phó lại đi nạp đạn- một vị trí không đòi hỏi gì nhiều về trình độ chuyên môn kỹ thuật, thường do các binh nhất, binh nhì đảm nhiệm? Thực sự đó là một câu hỏi có lý!
Đại đội phó kỹ thuật- Anh là ai?
Trong biên chế của binh chủng Tăng Thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam, có một chức danh hơi khác đối với các đơn vị bộ binh- chức danh cấp phó kỹ thuật. Đó là thành viên trong ban chỉ huy đơn vị, có nhiệm vụ giúp cấp trưởng giải quyết mọi vấn đề liên quan đến công tác kỹ thuật trong phạm vi đơn vị.
Tuy nhiên, chức danh này chỉ có từ cấp đại đội trở lên. Ở cấp đại đội được gọi là Đại đội phó kỹ thuật, ngày nay gọi là Phó đại đội trưởng về kỹ thuật.
Trong điều kiện hiện tại, các cán bộ kỹ thuật cấp đại đội thường được đào tạo tại hệ kỹ thuật của Trường sĩ quan Tăng Thiết giáp (trước đây gọi là Trường sĩ quan Chỉ huy- Kỹ thuật Tăng) hoặc từ sĩ quan hệ chỉ huy chuyển loại qua. Còn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thường thường các cán bộ kỹ thuật cấp đại đội trưởng thành từ lái xe lên.
Thông thường, trong số lái xe của mỗi đơn vị người ta sẽ chọn lấy một người có tay lái khá nhất, có kinh nghiệm sử dụng, bảo quản, sửa chữa xe... để giao nhiệm vụ làm kỹ thuật viên. Sau một thời gian, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ này sẽ được đưa đi bồi dưỡng một lớp ngắn hạn rồi sau đó bổ nhiệm Đại đội phó kỹ thuật.
Khi đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện- sẵn sàng chiến đấu thì đại đội phó kỹ thuật có trách nhiệm tổ chức tốt công tác bảo đảm kỹ thuật cho nhiệm vụ của đơn vị, đồng thời chịu trách nhiệm chính về hệ số sẵn sàng chiến đấu của toàn bộ số trang bị trong biên chế của đại đội mình.
Là giáo viên phụ trách các khoa mục huấn luyện kỹ thuật của đơn vị, đặc biệt là huấn luyện nâng cao trình độ cho đội ngũ lái xe.
Xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập: Tại sao đại đội phó kỹ thuật lại đi nạp đạn xe tăng? - Ảnh 1.
Xe tăng 390 chuẩn bị hành quân thần tốc vào Nam chiến đấu.
Khi hành quân chiến đấu, đại đội phó kỹ thuật là người giúp đại đội trưởng lập kế hoạch hành quân phù hợp với tình hình đường sá và khả năng của xe máy, lái xe, tính toán số lượng khí tài dự bị cần thiết phải đem theo, các cung chặng phải bổ sung nhiên liệu, dầu mỡ và bảo dưỡng các cấp v.v...
Trong quá trình hành quân thường đi cuối đội hình cùng với tổ thợ kịp thời khắc phục mọi hỏng hóc trong khả năng của mình.
Còn trong chiến đấu, vị trí của đại đội phó kỹ thuật là ở Đài quan sát kỹ thuật. Các thành phần giúp việc gồm có kỹ thuật viên, thợ sửa chữa và các thành viên dự bị. Có trường hợp được trang bị xe dắt (BTS).
Xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập: Tại sao đại đội phó kỹ thuật lại đi nạp đạn xe tăng? - Ảnh 2.
Đài quan sát kỹ thuật thường đặt sau đội hình chiến đấu, ở khoảng cách có thể quan sát được tình hình chiến đấu và thường xuyên cơ động theo đội hình với nhiệm vụ kịp thời cứu kéo, cứu hộ, và sửa chữa các hỏng hóc của trang bị... xảy ra trong quá trình chiến đấu.
Thiếu úy Lê Văn Phượng nhập ngũ năm 1965. Sau khi vào binh chủng anh được cử đi học lái xe tăng. Về đơn vị công tác một thời gian anh được đi đào tạo lái xe cấp 2 và được giao nhiệm vụ làm kỹ thuật viên đại đội rồi làm trợ lý kỹ thuật tiểu đoàn. Từ năm 1973 anh được bổ nhiệm làm Đại đội phó kỹ thuật của Đại đội 4 xe tăng.
Trong cuộc hành quân "Thần tốc" dọc miền duyên hải, Lê Văn Phượng thường đi cùng xe 380 là xe đi cuối đội hình.
Anh đã chỉ dạo khắc phục hầu hết các hư hỏng nhỏ trong đại đội và góp công lớn trong việc đưa đủ 100% xe của đơn vị đến vị trí tập kết (xe 386 sau đó mới hỏng). Và mặc dù là cán bộ đại đội song trên đường hành quân thỉnh thoảng anh vẫn xuống lái đỡ lái xe khi anh em mệt.
Xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập: Tại sao đại đội phó kỹ thuật lại đi nạp đạn xe tăng? - Ảnh 3.
Lê Văn Phượng - thành viên đặc biệt của kíp xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa 30/04/1975. Ảnh: Nguyễn Khắc Nguyệt.
Sự lựa chọn của lịch sử?
Chiến dịch Hồ Chí Minh trên cánh đông đã tiến hành được 3 ngày song hướng chủ yếu của quân đoàn 2 vẫn bị đối phương cầm chân ở căn cứ Nước Trong. Đại đội XT 5 phối thuộc cho Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 đã chiến đấu liên tục 3 ngày song vẫn chưa chọc thủng được cái chốt chặn nguy hiểm này và đã bị tổn thất khá nhiều- kể cả khi được chi viện 1 xe của Đại đội XT 4.
Không thể chờ đợi lâu hơn, ngày 29.4.1975 Lữ đoàn xe tăng 203 quyết định tung Đại đội XT 4 vào nhằm tạo ra bước đột phá mới để mở đường tiến quân cho quân đoàn nhanh chóng tiến về Sài Gòn. Nhiệm vụ của đại đội là chọc thủng tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch tại căn cứ Nước Trong và nhanh chóng phát triển ra đường 15.
Tính chất của trận đánh này là tiến công địch phòng ngự trong công sự nhưng lại có một chút dáng dấp hành tiến tiến công. Vì vậy, cả đại đội phó kỹ thuật cùng các thành viên tổ kỹ thuật đều đi theo các xe để phụ giúp cho nạp đạn.
Đây là một công việc hết sức nặng nhọc nên có thêm người giúp sẽ đỡ vất vả. Ngoài ra, khi có thêm một người nạp đạn thì chiến sĩ nạp đạn sẽ có thể sử dụng khẩu trọng liên 12, 7 mm để diệt địch.
Sau khi xe 380 bị thương trong trận đánh trước, đại đội phó kỹ thuật Lê Văn Phượng chuyển sang đi cùng xe tăng 390. Thành viên của xe này gồm có: Trung úy Vũ Đăng Toàn, chính trị viên đại đội kiêm trưởng xe; Nguyễn Văn Tập- lái xe; Ngô Sĩ Nguyên- pháo thủ và Đỗ Cao Trường- pháo thủ số hai (nạp đạn).
Xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập: Tại sao đại đội phó kỹ thuật lại đi nạp đạn xe tăng? - Ảnh 4.
Xe tăng 390 trong đội hình QGP đánh chiếm dinh Độc Lập trưa 30.04.1975. Ảnh tư liệu.
Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Quân địch lợi dụng các công sự kiên cố và địa hình có lợi ngăn chặn quyết liệt.
Bỗng một quả đạn pháo nổ gần. Vài mảnh đạn văng lên chém vào hông và chân của Trường. Tuy vậy, anh vẫn kiên cường chiến đấu cho đến lúc trận đánh kết thúc thắng lợi mới chịu đi viện. Kể từ đó trở đi, vị trí pháo thủ số hai- nạp đạn của xe tăng 390 do thiếu úy Lê Văn Phượng, Đại đội phó kỹ thuật đảm nhiệm.Để tăng cường sức mạnh hỏa lực, pháo thủ số hai Đỗ Cao Trường nhô người ra ngoài tháp pháo bắn 12, 7 mm. Công việc nạp đạn trong xe do đại đội phó Lê Văn Phượng đảm nhiệm. Những loạt đạn trọng liên thẳng căng đã làm tăng đáng kể hỏa lực của xe tăng.
Đó chính là câu trả lời cho câu hỏi đã đặt ra ở trên. Còn tại sao lại như vậy thì có lẽ là do sự lựa chọn của lịch sử!

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2018

QGP THỌC SÂU BẰNG CƠ GIỚI, ĐẬP TAN MỌI HY VỌNG MONG MANH

QGP thần tốc thọc sâu bằng cơ giới: Đập tan những hy vọng mong manh của VNCH
Mũi thọc sâu cơ giới đánh điếm Dinh Độc Lập trưa 30/04/1975. Ảnh tư liệu.

Trong chiến dịch HCM, không thể không nói đến một nét sáng tạo của nghệ thuật quân sự VN: Thành lập các mũi thọc sâu bằng cơ giới, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu.

Vào cuối tháng 4/1975, sau những thất bại liên tiếp ở Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, đồng bằng Khu 5 và phòng tuyến Phan Rang - Xuân Lộc, tình thế trên chiến trường của Việt Nam Cộng hoà (VNCH) xấu đi nghiêm trọng. Trên chính trường Sài Gòn, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức trong ấm ức, tinh thần từ giới cầm quyền cho đến binh sĩ hoang mang tột độ.
Trong khi đó, các binh đoàn chủ lực của Quân giải phóng đã đến vị trí tập kết chiến dịch, hình thành 5 cánh quân ép chặt Sài Gòn. Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh đã sẵn sàng chờ giờ nổ súng.
Các mục tiêu chủ yếu cần đánh chiếm do Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định là: Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH, Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát, sân bay Tân Sơn Nhất và Dinh Độc Lập. Đó là những mục tiêu mà khi đánh chiếm được sẽ nhanh chóng làm tan rã sự kháng cự của đối phương.
QGP thần tốc thọc sâu bằng cơ giới: Đập tan những hy vọng mong manh của VNCH - Ảnh 1.
Ngành Kỹ thuật quân đội đã tập trung bảo đảm kỹ thuật cho hàng chục ngàn xe cơ giới phục vụ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Ảnh: Tư liệu.
Những hy vọng mong manh
Trong thế trận "không còn gì để mất", Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH khẩn trương tái phối trí lực lượng hòng cố thủ Sài Gòn để hy vọng vào một giải pháp chính trị nào đó. Hệ thống phòng thủ Sài Gòn được phân thành 2 tuyến:
Tuyến phòng thủ vòng ngoài: Bố trí cách trung tâm Sài Gòn 30-50 km. Lực lượng bao gồm 4 sư đoàn bộ binh (BB) và một số đơn vị quân binh chủng. Cụ thể:
Sư đoàn 22 BB (mới tái lập) ở Long An, Bến Lức, ngã ba Trung Lương, sở chỉ huy đặt tại Long An;
Sư đoàn 25 BB giữ Đồng Dù, Trảng Bàng, Củ Chi, Hậu Nghĩa, sở chỉ huy đặt tại căn cứ Đồng Dù;
Sư đoàn 5 BB giữ Lai Khê, Bến Cát, Bình Dương, sở chỉ huy đặt tại Lai Khê;
Sư đoàn 18 BB (chỉ còn 2 chiến đoàn) giữ Bàu Cá, Trảng Bom, Suối Đĩa;
Sư đoàn Thủy quân lục chiến (chỉ còn 2 lữ đoàn) giữ Long Bình;
Sư đoàn 5 Không quân đóng tại Tân Sơn Nhất;
Lữ đoàn 3 Thiết giáp giữ Biên Hoà;
Lữ đoàn 1 Dù giữ Bà Rịa - Vũng Tàu;
Tuyến phòng thủ bên trong bao gồm: Ba Liên đoàn Biệt động quân triển khai tại Bình Chánh, Hóc Môn, Bình Triệu. Bốn Khu chiến Đông, Tây, Nam, Bắc do các Liên đoàn Biệt động quân, Bảo an, Phòng vệ dân sự trấn giữ.
QGP thần tốc thọc sâu bằng cơ giới: Đập tan những hy vọng mong manh của VNCH - Ảnh 2.
Mũi thọc sâu cơ giới đánh điếm Dinh Độc Lập trưa 30/04/1975. Ảnh: Tư liệu.
Năm Liên khu phòng thủ nội đô gồm: Liên khu 1 (các quận 1, 3), Liên khu 2 (các quận 5, 6), Liên khu 3 (các quận 2, 4), Liên khu 4 (các quận 7, 8), Liên khu 5 (các quận 10 và 11).
Các ổ đề kháng cũng được tổ chức tại Bộ Tư lệnh biệt khu thủ đô, Bộ Tổng tham mưu (do Liên đoàn biệt kích dù 81 phòng thủ), Tổng nha Cảnh sát, Căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Bản thân Dinh Độc Lập cũng được bố trí làm một trung tâm đề kháng với một lữ đoàn cảnh vệ quốc gia có xe tăng và xe bọc thép tăng cường.
QGP thần tốc thọc sâu bằng cơ giới: Đập tan những hy vọng mong manh của VNCH - Ảnh 3.
Ngoài ra, tại Quân khu 4 lực lượng Quân đoàn 4 do Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lệnh còn gần như nguyên vẹn. Trước đó, theo lệnh của Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH, tướng Nguyễn Khoa Nam đã hoàn chỉnh kế hoạch lập "mật khu" để giữ đồng bằng sông Cửu Long làm căn cứ tiếp tục chống cự nếu Sài Gòn thất thủ.
Tướng Nam hy vọng với ba sư đoàn bộ binh 7, 9, 21 còn tương đối nguyên vẹn trong tay, gần nửa triệu địa phương quân và phòng vệ dân sự, cộng với các lực lượng còn sống sót rút từ các quân khu đã thất thủ về có thể lập được vành đai Alpha xung quanh thành phố Cần Thơ, trung tâm chỉ huy của Quân đoàn.
Trong trường hợp không giữ được Cần Thơ, tướng Nam còn có phương án dựa vào tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia với dãy núi Thất Sơn và các vùng có đông tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, có hàng trăm hang động hiểm trở để cầm cự lâu dài và chờ thời cơ phản công.
Trong tháng 4 năm 1975, một số công trình kiên cố dự định sử dụng cho Bộ tổng tham mưu Quân lực VNCH rút về đây đã được xây dựng.
Với lực lượng và cách bố phòng như trên, các tướng lĩnh cũng như giới lãnh đạo chóp bu của VNCH hy vọng sẽ cầm chân QGP được đến mùa mưa và có thể sẽ có một giải pháp chính trị nào đó có lợi với họ.
Tuy nhiên, mọi sự đã không xả ra như ý muốn.
QGP thần tốc thọc sâu bằng cơ giới: Đập tan những hy vọng mong manh của VNCH - Ảnh 4.
Mũi thọc sâu cơ giới đánh điếm Dinh Độc Lập trưa 30/04/1975. Ảnh: Tư liệu.
Vỏ quýt dày có móng tay nhọn
Trước tình hình như trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh đã xác định cách đánh:
"Dùng một phần lực lượng thích hợp trên từng hướng, đủ sức hình thành bao vây, chia cắt, chặn giữ quân địch không cho chúng rút chạy về Sài Gòn, tiêu diệt và làm tạn rã tại chỗ các sư đoàn chủ lực của địch phòng ngự vòng ngoài.
Đồng thời dùng đại bộ phận lực lượng của ta nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các địa bàn then chốt ở vùng ven, mở đường cho các binh đoàn đột kích cơ giới mạnh đã được tổ chức chặt chẽ, tiến nhanh theo các trục đường lớn đánh thẳng vào 5 mục tiêu đã được lựa chọn trong nội thành".
Nhiệm vụ cụ thể của các hướng như sau:
Hướng Tây Bắc: Do Quân đoàn 3 đảm nhiệm có nhiệm vụ đánh chiếm Đồng Dù, tiêu diệt Sư đoàn 25BB, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và cùng Quân đoàn 1 đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu.
Hướng Bắc và Đông Bắc: Do Quân đoàn 1 đảm nhiệm, có nhiệm vụ đánh chiếm Phú Lợi, tieu diệt Sư đoàn 5BB, tiếp đó đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu và khu Bộ Tư lệnh các binh chủng.
Hướng Tây và Tây Nam: Do Đoàn 232 đảm nhiệm, có nhiệm vụ tiêu diệt Sư đoàn 25BB, cắt đường số 4, đánh chiếm Biệt khu Thủ đô và Tổng nha cảnh sát.
Hướng Đông: Do Quân đoàn 4 đảm nhiệm, có nhiệm vụ tiêu diệt sở chỉ huy Quân đoàn 3, Sư đoàn 18BB ở Biên Hòa, sau đó đánh chiếm dinh Độc Lập.
Hướng Đông Nam: Do Quân đoàn 2 đảm nhiệm, có nhiệm vụ đánh chiếm Bà Rịa- Vũng Tàu, căn cứ Nước Trong, Nhơn Trạch, sau đó phát triển vào nội thành cùng Quân đoàn 4 đánh chiếm dinh Độc Lập.
Căn cứ vào tình hình địch và quán triệt cách đánh của Bộ Tư lệnh chiến dịch, các quân đoàn đều sử dụng một lực lượng thích hợp để đột phá tuyến phòng thủ vòng ngoài. Đồng thời tổ chức một lực lượng thọc sâu bằng cơ giới mạnh để sẵn sàng cơ động đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu trong nội thành.
Trên hướng Bắc, Quân đoàn 1 sử dụng Sư đoàn 320 và một số đơn vị binh chủng làm lực lượng thọc sâu.Trên hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 sử dụng Sư đoàn 10 và một số đơn vị binh chủng làm mũi thọc sâu.
Trên hướng Tây Nam, Đoàn 232 sử dụng Sư đoàn 9 và một số đơn vị binh chủng làm lực lượng thọc sâu.
Trên hướng Đông, Quân đoàn 4 sử dụng Sư đoàn 7 và một số đơn vị binh chủng làm lực lượng thọc sâu.
Riêng Quân đoàn 2 thành lập binh đoàn thọc sâu gồm Lữ đoàn xe tăng 203 (thiếu dT2), Trung đoàn BB 66 và một số đơn vị binh chủng đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh quân đoàn.
Với cách đánh thích hợp, chỉ sau gần 5 ngày chiến đấu, các hướng tiến công đều hoàn thành nhiệm vụ, các mục tiêu chủ yếu đều bị đánh chiếm trong thời gian nhanh nhất. Đến 10 giờ 45 ngày 30.4.1975, lá cờ chiến thắng đã được cắm trên nóc Dinh Độc Lập.
12 giờ 30 cùng ngày, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Tướng Nguyễn Khoa Nam tự sát, Quân đoàn 4 VNCH không cần đánh cũng tan rã.
Nguồn: http://soha.vn/qgp-than-toc-thoc-sau-bang-co-gioi-dap-tan-nhung-hy-vong-mong-manh-cua-vnch-20180426104648634rf20180426104648634.htm

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

CÁNH CỬA THÉP XUÂN LỘC BỊ CHỌC THỦNG- MỌI CON ĐƯỜNG VỀ SÀI GÒN ĐÃ MỞ TOANG

"Cánh cửa thép" Xuân Lộc bị chọc thủng - Mọi con đường vào Sài Gòn đã mở toang
Pháo binh và xe tăng của quân Giải phóng trên đường hành quân. Ảnh: Vũ Tạo - TTXVN

Trước sức tiến công như vũ bão của Quân giải phóng (QGP), toàn bộ Quân khu I và phần lớn Quân khu II của Việt Nam cộng hòa (VNCH) đã thất thủ.


Nhằm hà hơi tiếp sức cho chính quyền tay sai, ngày 28.3.1975- Tổng thống Giê-rơn Pho cử Đại tướng Uây- en, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ sang giúp đỡ.
Trực tiếp đi thị sát chiến trường, Uây-en đã cố vấn cho Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: "thiết lập một tuyến phòng thủ với cái neo đặt ở thị xã Phan Rang, lấy Xuân Lộc làm mũi nhọn và Tây Ninh là rìa phía tây" hòng cố thủ phần đất còn lại để hy vọng vào một giải pháp chính trị nào đó.
Uây- en còn nhấn mạnh: "Phải giữ cho được Xuân Lộc. Mất Xuân Lộc coi như mất Sài Gòn". Đồng thời y còn úp mở khả năng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục tăng viện trợ cho Sài Gòn. Như chết đuối vớ được cọc, Thiệu quyết tâm giữ bằng được Xuân Lộc.
"Cánh cửa thép" Xuân Lộc có làm được "chiếc cọc"?
Xuân Lộc là thủ phủ tỉnh Long Khánh (nay là thị xã thuộc tỉnh Đồng Nai). Thị xã này có quốc lộ số 1 và đường sắt xuyên Việt đi qua, có ngã ba Dầu Giây là điểm cuối của đường 20 từ Đà Lạt về, có đường 56 nối với Vũng Tàu; cách Sài Gòn 60 km về phía Đông - Đông Bắc, cách Biên Hòa 25 km về phía Đông.
Địa hình khu vực này không quá phức tạp, gồm nhiều đồi thấp xen giữa các cánh đồng, bãi sắn, vườn cây. Phía Nam có điểm cao Tân Phong (độ cao tuyệt đối 300 m), phía Tây có điểm cao Núi Thị rất thuận lợi cho quan sát chiến trường, tổ chức chỉ huy phòng thủ.
Cánh cửa thép Xuân Lộc bị chọc thủng - Mọi con đường vào Sài Gòn đã mở toang - Ảnh 1.
Xe tăng, bộ binh Quân đoàn 4 tiến công giải phóng Xuân Lộc tháng 4/1975. Ảnh: Báo Bình Dương
Với mục tiêu biến Xuân Lộc thành "cánh cửa thép" che chở cho Sài Gòn từ hướng Đông, Quân lực VNCH đã nâng cấp cấu trúc Xuân Lộc thành cụm cứ điểm mạnh với hai trung tâm chính là tiểu khu quân sự Long Khánh và căn cứ Sư đoàn 18 bộ binh, hai tiền đồn quan trọng là Núi Thị và Tân Phong.
Hệ thống vật cản và công sự chiến đấu ở Xuân Lộc được thiết kế hết sức kiên cố, vững chắc. Phía bên ngoài cứ điểm, mọi con đường vào Xuân Lộc đều có hào chống tăng cùng với các bãi mìn dày đặc. Xung quanh các cứ điểm là tầng tầng lớp lớp rào dây thép gai. Bên trong cứ điểm, công sự chiến đấu được xây dựng kiên cố với nhiều boong ke, lô cốt, hầm ngầm.
Cánh cửa thép Xuân Lộc bị chọc thủng - Mọi con đường vào Sài Gòn đã mở toang - Ảnh 2.
Lực lương phòng thủ ở đây cũng rất mạnh, bao gồm Sư đoàn 18 Bộ binh (với các Trung đoàn 43, 48 và 52), lực lượng Địa phương quân ở tỉnh và các đơn vị tăng phái gồm Trung đoàn 8 (thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh), Lữ đoàn 3 Thiết kỵ, Liên đoàn 7 Biệt động quân, hai tiểu đoàn pháo binh, Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, toàn bộ Lữ đoàn 1 Dù (với các Tiểu đoàn 1, 2, 8, 9) và Tiểu đoàn 3 Pháo binh Dù.
Sư đoàn 4 Không quân VNCH từ sân bay Cần Thơ phụ trách không yểm chiến thuật. Tất cả lực lượng trên đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn tướng Lê Minh Đảo (Tư lệnh Sư đoàn 18).
Với thiết trí công sự vật cản vững chắc, với lực lượng phòng thủ hùng hậu, với sự chi viện không hạn chế của không quân, pháo binh... Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hy vọng sẽ chặn đứng được đà tiến công của QGP, giữ nguyên phần đất còn lại ít nhất đến mùa mưa để tìm một giải pháp nào đó.
"Cánh cửa thép" cũng bị chọc thủng- Mọi ngả đường đến Sài Gòn đã mở toang
Ngày 02.4.1975, tướng Trần Văn Trà- Tư lệnh QGP Miền trực tiếp tới Sở chỉ huy Quân khu 7 tại xã Vĩnh An bên bờ sông Đồng Nai để giao nhiệm vụ cho các đơn vị Quân khu 7 và Quân đoàn 4 tiến công tiêu diệt Xuân Lộc nhằm mở rộng hành lang tiến công Sài Gòn.
Lực lượng QGP tham gia tiến công Xuân Lộc ban đầu gồm 3 sư đoàn bộ binh 6, 7 và 341, 2 tiểu đoàn xe tăng, 1 trung đoàn pháo binh cùng lực lượng địa phương. Trong đó, Sư đoàn 7 và 1 tiểu đoàn xe tăng vừa tham gia trận hành tiến tiến công giải phóng Đường 20 đang trên đường quay về.
Do thời gian chuẩn bị quá gấp gáp, tướng Hoàng Cầm- Tư lệnh Quân đoàn 4 đề nghị cho lui ngày tiến công sang 9.4.1975. Tướng Trần Văn Trà đồng ý.
5 giờ 40 phút ngày 9.4.1975 trận đánh bắt đầu. Sau khi các trận địa pháo của quân đoàn bắn chế áp mục tiêu 1 giờ, các hướng mũi bộ binh được xe tăng dẫn dắt bắt đầu thực hành tiến công vào các mục tiêu được giao.
Trên hướng chủ yếu, Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7) và 8 xe tăng chiếm được một phần hậu cứ của chiến đoàn 52. Trên hướng thứ yếu, Trung đoàn 266 (Sư đoàn 7) đánh vào thị xã đã đến sát sở chỉ huy tiểu khu.
Tại vòng ngoài, các Trung đoàn 270 (Sư đoàn 341), Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7) đánh bại 2 tiểu đoàn của Chiến đoàn 43, 48. Ở khu vực Dầu Dây, Sư đoàn 6 diệt 5 chốt từ Hưng Nghĩa đến đèo Mẹ Bồng Con.
Nhìn chung, trên tất cả các hướng, phía VNCH chống trả rất quyết liệt. Một số xe tăng bị mìn, bị hỏng.
Ngày 10.4.1975, phía QGP tung lực lượng dự bị vào tham chiến. Phía VNCH trong thế cùng đường cũng đưa quân lên cứu viện, dựa vào công sự kiên cố chống trả điên cuồng đồng thời tăng cường đánh phá bằng không quân vào các cánh quân QGP hoặc hủy diệt các cứ điểm đã mất.
Sau 5 ngày tiến công, QGP vẫn không hoàn thành được tất cả các mục tiêu đề ra nên tạm dừng. Thấy vậy, tướng Lê Minh Đảo cho rằng QGP đã "hụt hơi". Ngày 14.4 Đảo tổ chức họp báo tại trận thách thức tướng Hoàng Cầm tiếp tục tiến công. Lê Minh Đảo không ngờ sấm sét đang chuẩn bị giáng xuống đầu mình từ hướng khác.
Cánh cửa thép Xuân Lộc bị chọc thủng - Mọi con đường vào Sài Gòn đã mở toang - Ảnh 3.
Đoàn quân giải phóng trên quốc lộ I từ Nha Trang tiến về giải phóng miền Nam.
Phía QGP, trước tình hình khó khăn của trận đánh, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 đã quyết định chuyển hướng tiến công: Không đánh vỗ mặt chính diện nữa mà đánh vào phía sau quân địch.
Cụ thể là: "Tập trung lực lượng đánh chiếm khu vực Ngã ba Dầu Dây và Núi Thị, đồng thời uy hiếp sở chỉ huy Quân đoàn 3 VNCH ở Trảng Bom, đánh địch ở Biên Hòa, Tràng Bom ra phản kích; pháo kích mạnh sân bay Biên Hòa, đẩy địch ở Xuân Lộc vào tình trạng hoang mang, bối rối vì bị cắt rời khỏi hậu phương, bị bao vây cô lập từ nhiều phía...".
Rạng sáng ngày 15.4.1975, khi pháo 130 ly bắt đầu bắn phá căn cứ không quân Biên Hòa, không cho máy bay từ đây yểm trợ Xuân Lộc thì Sư đoàn 6 được tăng cường Trung đoàn 95, hiệp đồng tiến công Chiến đoàn 52 (gồm Trung đoàn 52 của Sư đoàn 18, Lữ đoàn 3 Thiết kỵ, và các lực lượng Địa phương quân ở Kiệm Tân).
Đến cuối ngày QGP đã đánh chiếm được ngã ba Dầu Giây (giao điểm của Quốc lộ 1 với đường 20) và đoạn cuối đường 20 từ Trúc Tân đến Kiệm Tân, đánh bại nhiều cuộc phản kích từ Trảng Bom ra, uy hiếp sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 3 Việt Nam Cộng hòa đặt tại Trảng Bom.
Cùng ngày hôm đó, tại Xuân Lộc, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đồng thời tấn công, đánh lui hai chiến đoàn 43 và 48 của Sư đoàn 18, diệt một phần Lữ đoàn 1 Dù.

Quá trình lui quân của các lực lượng VNCH trong những ngày tiếp theo diễn ra trong mối lo thường trực bị QGP phục kích, tập kích bằng hỏa lực. Cho đến sáng ngày 21 tháng 4 những tuyến phòng thủ cuối cùng của Quân lực VNCH tại Xuân Lộc hoàn toàn tan rã.Mất Dầu Giây và đường 20, Biên Hòa trở thành điểm tiền tiêu; Xuân Lộc bị cô lập và mất vị trí quan trọng, tử thủ chẳng ích gì. Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn 3 Việt Nam Cộng hòa, ra lệnh rút bỏ Long Khánh. Ngày 18 tháng 4, một phần lực lượng ở Xuân Lộc được bốc bằng trực thăng về Biên Hòa - Trảng Bom lập phòng tuyến mới.
Đó cũng là thời điểm "Cánh cửa thép" Xuân Lộc đã chính thức bị chọc thủng. Mọi con đường vào Sài Gòn đã mở toang.

TRỞ TAY KHÔNG KỊP- TRUNG TƯỚNG BỊ BẮT SỐNG

Trở tay không kịp, trung tướng bị bắt sống: Những giờ cuối của BTL tiền phương QĐ 3 VNCH
QGP đập tan “lá chắn thép” Phan Rang của VNCH, giải phóng Ninh Thuận, mở đường tiến quân về giải phóng Sài Gòn. Ảnh tư liệu.

Trước sức tiến công mạnh mẽ của Quân giải phóng (QGP), cho tới cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1975, toàn bộ Quân khu 1 và phần lớn Quân khu 2 của VNCH đã rơi vào tay QGP.

Dưới sự cố vấn của Đại tướng Uây-en (John Wayne)- Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu quyết định xây dựng một tuyến phòng thủ mới với "cái neo đặt ở thị xã Phan Rang, lấy Xuân Lộc làm mũi nhọn và Tây Ninh là rìa phía tây" nhằm cố thủ phần đất còn lại.
Để thực hiện mưu đồ này, các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận vốn là phần còn lại của Quân khu 2 nay được sáp nhập vào Quân khu 3, đồng thời Thiệu tổ cho thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 và giao cho Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi - một thủ hạ tin cậy làm tư lệnh với lời hứa sẽ tăng cường tối đa lực lượng và phương tiện.
Hy vọng cuối cùng của Nguyễn Văn Thiệu
Ngày 4 tháng 4 năm 1975, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi tới Phan Rang nhậm chức. Ông ta đặt sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 trong sân bay Thành Sơn hiện đang là căn cứ của Sư đoàn 6 Không quân vừa mới di tản từ Plây-cu về.
Phụ tá cho Nghi có các chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 Bộ Binh (BB), chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang - Tư lệnh Sư đoàn 6 Không Quân (KQ) và đại tá Nguyễn Thu Lương - Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 2 Dù.
Theo nhận định của Nghi, Phan Rang nằm vào phía Nam của một thung lũng hẹp bao bọc bởi các dải núi về hướng Tây, Bắc và Đông Bắc, có các cao điểm và đèo Du Long rất thuận tiện cho việc phòng ngự. Vì vậy ông ta chủ trương:
"Phải chống giữ mặt Bắc từ Quận Du Long, mặt Tây từ Quận Tân Mỹ và phải giữ an toàn cho căn cứ Không quân, cũng như giữ an ninh cho Thị xã."
Trở tay không kịp, trung tướng bị bắt sống: Những giờ cuối của BTL tiền phương QĐ 3 VNCH - Ảnh 1.
Ngày 16-4-1975: Chiến thắng Phan Rang, giải phóng hoàn toàn tỉnh Ninh Thuận. Ảnh tư liệu.
Theo quan niệm đó, Trung tướng Nghi thảo ra kế hoạch phòng thủ Phan Rang với một lực lượng cỡ 2 sư đoàn. Đó là:
Mặt Bắc, trên Quốc lộ 1 trấn giữ các điểm cao tại đèo Du Long với một dải chiến tuyến hùng hậu tại Du Long cùng các tuyến phụ tại Bà Râu và Ba Tháp để ngăn chận mọi cuộc tấn công hướng vào thị xã hoặc vào căn cứ.
Mặt phía Tây, trên Quốc lộ 11, án ngữ tại vùng Tân Mỹ, một chiến tuyến để chận địch và bảo vệ mặt Tây và Nam của phi trường.
Bảo vệ an ninh cho thị xả và phi trường do các đơn vị chánh quy phối hợp với Địa phương quân phụ trách.
Tướng Nghi cùng các tướng lĩnh khác của Quân đoàn 3 VNCH cũng nhận định: Quân giải phóng đã đi quá xa hậu tuyến của mình, đồng thời phải củng cố các địa bàn mới chiếm được nên có nhanh cũng phải cỡ 20 ngày nữa mới tiếp tục tiến công được.
Thời gian đó đủ để tái phối trí lực lượng, thiết trí công sự, bổ sung vũ khí đạn dược... Vì vậy, tướng Nghi khá yên tâm với kế hoạch của mình.
Tuy nhiên, "mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên". Có rất nhiều chuyện xảy ra ngoài ý muốn con người.
Tạo thế bất ngờ, đánh nhanh thắng nhanh
Không như nhận định của các tướng lĩnh VNCH, phía Quân Giải phóng (QGP) đã có những quyết định hết sức táo bạo. Tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Tư lệnh cánh quân Duyên Hải đã quyết định sử dụng Sư đoàn 3 Sao Vàng - với lợi thế ở cự ly gần - gấp rút hoàn thành công tác chuẩn bị đánh Phan Rang, mở cửa cho Quân đoàn 2.
Ngày 14 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 3 bắt đầu tiến công đường hẻm Du Long. Bất ngờ trước sức tiến công của QGP, đường hẻm Du Long thất thủ.
Ngày 15 tháng 4 năm 1975, khi các lực lượng đi đầu của cánh quân Duyên Hải đã đến nam Cam Ranh, Sư đoàn 3 được lệnh lật cánh lên phía Tây để đánh vào sân bay Thành Sơn, nhường hướng tiến công chính diện theo Quốc lộ 1 cho Sư đoàn 325 và Lữ đoàn xe tăng 203 (thiếu).
Trở tay không kịp, trung tướng bị bắt sống: Những giờ cuối của BTL tiền phương QĐ 3 VNCH - Ảnh 2.
Đánh chiếm sân bay Thành Sơn, Phan Rang ngày 16-4-1975. Ảnh tư liệu.
Bất chấp các cuộc oanh kích dữ dội của Sư đoàn 6 KQ - VNCH, các hoạt động điều quân, chuyển quân diễn ra suốt đêm 15.4, tạo thành hai gọng kìm ép chặt Phan Rang.
5 giờ sáng ngày 16 tháng 4 năm 1975, trận tiến công Phan Rang bắt đầu. Các trận địa pháo với số lượng đạn dồi dào bắn cấp tập vào các cứ điểm dọc đường Quốc lộ 1 và sân bay Thành Sơn. Trong khi đó, xe tăng và bộ binh cũng triển khai tiến công.
Trên hướng Quốc lộ 1, với chiến thuật tiến công trong hành tiến, bộ binh của Sư đoàn 325 được đưa lên xe tăng, xe thiết giáp của Tiểu đoàn TTG4 dẫn đầu đội hình tiến công. Lần lượt các cứ điểm Bà Râu, Ba Tháp, Gò Đền, Cà Đú, Hội Diên bị công phá. Hơn 7 giờ ngày 16 tháng 4, Thị xã Phan Rang đã nằm trong tay QGP.
Song song với hướng tiến công dọc Quốc lộ 1, trên hướng Tây, Trung đoàn 25 và Sư đoàn 3 cũng đã áp sát và nố súng tiến công sân bay Thành Sơn.
Để nhanh chóng dứt điểm mục tiêu sân bay Thành Sơn, Bộ Chỉ huy Quân đoàn 2 đã chỉ thị cho sư đoàn 325 tổ chức thêm một mũi bộ binh, xe tăng, từ thị xã Phan Rang đánh lên sân bay.
Ngay sau khi nhận được mệnh lệnh của cấp trên, Trung đoàn 101 lập tức phái Đại đội 3 bộ binh cùng với xe tăng và hai trung đội của Đại đội 2 bộ binh tiến lên phía tây bắc, đánh chiếm sân bay Thành Sơn.
Khi xe tăng và bộ binh Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 101 vận động đến quận lỵ Bửu Sơn (Tháp Chàm) phát hiện địch, QGP lập tức tách làm 2 mũi: mũi số 1 chọc thẳng vào cổng số 1 sân bay Thành Sơn; mũi thứ 2 đánh vào quận lỵ Bửu Sơn. Đến 9 giờ 20 phút, Đại đội 2 và xe tăng chiếm gọn quận lỵ Bửu Sơn.
Thừa thắng, bộ binh và xe tăng QGP đánh thẳng vào khu vực đường băng chính. Trên hướng bắc sân bay, lúc này, Trung đoàn 25 và Sư đoàn 3 dùng mìn liên kết phá tung 11 lớp rào kẽm gai, đánh tràn vào căn cứ. Một mũi khác dánh thẳng vào cổng số 2.
Đến 9 giờ 30 phút, Trung đoàn BB 101 có xe tăng của Lữ đoàn 203 phối hợp, cùng với các mũi tiến công của bộ binh Trung đoàn 25, Sư đoàn 3 gặp nhau ở khu vực đài chỉ huy sân bay. QGP hoàn toàn làm chủ sân bay, thu 40 máy bay còn nguyên vẹn.
Trở tay không kịp - Bó tay chịu trói
Tại Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 VNCH, vào 8.00 giờ sáng ngày 16 tháng 4, Đại tá Biết Liên Đoàn Trưởng Liên đoàn 31BĐQ báo cáo là Du Long đã bị tràn ngập và QGP đã vào thị xã. Trung tướng Nghi mời Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt vào để duyệt xét tình hình. Tướng Nhựt cho biết các đơn vị của ông ta đang chạm QGP và sau đó trở ra đi thị sát mặt trận.
Trong khi đó, QGP vẫn giữ mức độ pháo kích chế áp từng chập vào sân bay. Nhân có các khoảng trống giữa những đợt pháo kích, một số máy bay đã rời căn cứ.
Khoảng 9.00 giờ sáng, một trực thăng vũ trang bị tên lửa A72 bắn rơi tại ngọn đồi gần sân bay. Trung đoàn 4 báo cáo đang chạm QGP. Trong lúc đó xe tăng QGP đã xuất hiện ở cổng số 1 sân bay.
Tuy vậy, đến lúc đó, Trung tướng Nghi vẫn tin tưởng vào khả năng chiến đấu của Trung đoàn 4 bảo vệ phi trường và Trung đoàn 5 án ngữ ngăn chặn QGP tràn vào cổng số 1 của căn cứ.
Đến khoảng gần 10 giờ, khi tiếng súng càng lúc càng dồn dập, Tướng Nghi liền mời Chuẩn tướng Sang, Đại tá Lương tới họp để tái duyệt xét tình hình. Vì mặt trận đã bị thủng từ Du Long và QGP đang hăm dọa căn cứ nên Trung tướng Nghi dự tính sẽ dời Bộ Tư lệnh Tiền phương về Cà Ná để lập tuyến phòng thủ mới.
Trở tay không kịp, trung tướng bị bắt sống: Những giờ cuối của BTL tiền phương QĐ 3 VNCH - Ảnh 3.
Thấy không thể trùng trình được nữa, tướng Phạm Ngọc Sang giục tướng Nghi: "Tôi đã chuẩn bị sẵn một máy bay do Trung tá Lê Văn Bút, Không đoàn trưởng Không đoàn chiến thuật 72 lái, rất tin cẩn. Xin mời trung tướng đi trực thăng lên trời chỉ huy. Tánh mạng của trung tướng là quan trọng".
Tướng Nghi trả lời: "Cám ơn, nhưng chưa nên vội". Và ông ta vẫn bám chặt lấy ống nghe máy điện đài.
Nửa giờ sau, Tư lệnh sư đoàn 2 BB Trần Văn Nhựt báo cáo: "Sư 2 không còn sức phản công, Cộng quân đã vào chiếm các đồi ở phía bắc". Cùng lúc, đại tá Nguyễn Văn Biết, chỉ huy Liên đoàn 31 BĐQ giữ cổng số 2 cũng báo cáo: "Quân biệt động đã tan rã hết rồi. Cổng số 2 đang bị tràn ngập!".
Trở tay không kịp, trung tướng bị bắt sống: Những giờ cuối của BTL tiền phương QĐ 3 VNCH - Ảnh 4.
Binh lính Sư đoàn 2 ngụy quân Sài Gòn ra hàng Quân giải phóng. Ảnh tư liệu TTXVN.
Chỉ đến lúc đó, tướng Nghi mới hạ lệnh: "Tất cả rút chạy!" rồi quăng ống nghe tổ hợp PRC25 xuống. Các tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Phạm Ngọc Sang và Đại tá Nguyễn Thu Lương định chạy ra máy bay lên thẳng nhưng không được vì đạn đại liên từ các quả đồi phía bắc sân bay bắn xuống xối xả.
Không còn cách nào khác, Trung tướng Nghi ra lệnh rời căn cứ bằng đường bộ, từng đơn vị theo đơn vị trưởng mình rút theo hướng Nam về Cá Ná để lập phòng tuyến mới.

Nhưng mọi ngả đường đã bị bít chặt. Tối 16-4, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang cùng nhiều sĩ quan của Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 VNCH đang lẩn trốn ở khu vực bãi mía thuộc thôn Mỹ Đức (nằm giữa sân bay Thành Sơn và thị xã Phan Rang) đã bị lực lượng truy quét tàn binh của Sư đoàn 3 tóm gọn.Trung tướng Nghi, Chuẩn tướng Sang, Đại tá Lương, ông Lewis - chuyên viên Tòa Đại sứ Mỹ cùng các quân nhân của Bộ Tư lệnh Tiền phương, Sư đoàn 6 KQ, Lữ Đoàn 2 Dù cùng các toán quân lẻ tẻ khác vào khoảng vài trăm người rời căn cứ tiến ra cổng số 1 đi về hướng Nam.
Thế là niềm hy vọng cuối cùng của Nguyễn Văn Thiệu vào "Lá chắn thép" Phan Rang và tên thủ hạ tin cậy Nguyễn Vĩnh Nghi đã tan thành mây khói!