Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

CÁNH CỬA THÉP XUÂN LỘC BỊ CHỌC THỦNG- MỌI CON ĐƯỜNG VỀ SÀI GÒN ĐÃ MỞ TOANG

"Cánh cửa thép" Xuân Lộc bị chọc thủng - Mọi con đường vào Sài Gòn đã mở toang
Pháo binh và xe tăng của quân Giải phóng trên đường hành quân. Ảnh: Vũ Tạo - TTXVN

Trước sức tiến công như vũ bão của Quân giải phóng (QGP), toàn bộ Quân khu I và phần lớn Quân khu II của Việt Nam cộng hòa (VNCH) đã thất thủ.


Nhằm hà hơi tiếp sức cho chính quyền tay sai, ngày 28.3.1975- Tổng thống Giê-rơn Pho cử Đại tướng Uây- en, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ sang giúp đỡ.
Trực tiếp đi thị sát chiến trường, Uây-en đã cố vấn cho Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: "thiết lập một tuyến phòng thủ với cái neo đặt ở thị xã Phan Rang, lấy Xuân Lộc làm mũi nhọn và Tây Ninh là rìa phía tây" hòng cố thủ phần đất còn lại để hy vọng vào một giải pháp chính trị nào đó.
Uây- en còn nhấn mạnh: "Phải giữ cho được Xuân Lộc. Mất Xuân Lộc coi như mất Sài Gòn". Đồng thời y còn úp mở khả năng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục tăng viện trợ cho Sài Gòn. Như chết đuối vớ được cọc, Thiệu quyết tâm giữ bằng được Xuân Lộc.
"Cánh cửa thép" Xuân Lộc có làm được "chiếc cọc"?
Xuân Lộc là thủ phủ tỉnh Long Khánh (nay là thị xã thuộc tỉnh Đồng Nai). Thị xã này có quốc lộ số 1 và đường sắt xuyên Việt đi qua, có ngã ba Dầu Giây là điểm cuối của đường 20 từ Đà Lạt về, có đường 56 nối với Vũng Tàu; cách Sài Gòn 60 km về phía Đông - Đông Bắc, cách Biên Hòa 25 km về phía Đông.
Địa hình khu vực này không quá phức tạp, gồm nhiều đồi thấp xen giữa các cánh đồng, bãi sắn, vườn cây. Phía Nam có điểm cao Tân Phong (độ cao tuyệt đối 300 m), phía Tây có điểm cao Núi Thị rất thuận lợi cho quan sát chiến trường, tổ chức chỉ huy phòng thủ.
Cánh cửa thép Xuân Lộc bị chọc thủng - Mọi con đường vào Sài Gòn đã mở toang - Ảnh 1.
Xe tăng, bộ binh Quân đoàn 4 tiến công giải phóng Xuân Lộc tháng 4/1975. Ảnh: Báo Bình Dương
Với mục tiêu biến Xuân Lộc thành "cánh cửa thép" che chở cho Sài Gòn từ hướng Đông, Quân lực VNCH đã nâng cấp cấu trúc Xuân Lộc thành cụm cứ điểm mạnh với hai trung tâm chính là tiểu khu quân sự Long Khánh và căn cứ Sư đoàn 18 bộ binh, hai tiền đồn quan trọng là Núi Thị và Tân Phong.
Hệ thống vật cản và công sự chiến đấu ở Xuân Lộc được thiết kế hết sức kiên cố, vững chắc. Phía bên ngoài cứ điểm, mọi con đường vào Xuân Lộc đều có hào chống tăng cùng với các bãi mìn dày đặc. Xung quanh các cứ điểm là tầng tầng lớp lớp rào dây thép gai. Bên trong cứ điểm, công sự chiến đấu được xây dựng kiên cố với nhiều boong ke, lô cốt, hầm ngầm.
Cánh cửa thép Xuân Lộc bị chọc thủng - Mọi con đường vào Sài Gòn đã mở toang - Ảnh 2.
Lực lương phòng thủ ở đây cũng rất mạnh, bao gồm Sư đoàn 18 Bộ binh (với các Trung đoàn 43, 48 và 52), lực lượng Địa phương quân ở tỉnh và các đơn vị tăng phái gồm Trung đoàn 8 (thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh), Lữ đoàn 3 Thiết kỵ, Liên đoàn 7 Biệt động quân, hai tiểu đoàn pháo binh, Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, toàn bộ Lữ đoàn 1 Dù (với các Tiểu đoàn 1, 2, 8, 9) và Tiểu đoàn 3 Pháo binh Dù.
Sư đoàn 4 Không quân VNCH từ sân bay Cần Thơ phụ trách không yểm chiến thuật. Tất cả lực lượng trên đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn tướng Lê Minh Đảo (Tư lệnh Sư đoàn 18).
Với thiết trí công sự vật cản vững chắc, với lực lượng phòng thủ hùng hậu, với sự chi viện không hạn chế của không quân, pháo binh... Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hy vọng sẽ chặn đứng được đà tiến công của QGP, giữ nguyên phần đất còn lại ít nhất đến mùa mưa để tìm một giải pháp nào đó.
"Cánh cửa thép" cũng bị chọc thủng- Mọi ngả đường đến Sài Gòn đã mở toang
Ngày 02.4.1975, tướng Trần Văn Trà- Tư lệnh QGP Miền trực tiếp tới Sở chỉ huy Quân khu 7 tại xã Vĩnh An bên bờ sông Đồng Nai để giao nhiệm vụ cho các đơn vị Quân khu 7 và Quân đoàn 4 tiến công tiêu diệt Xuân Lộc nhằm mở rộng hành lang tiến công Sài Gòn.
Lực lượng QGP tham gia tiến công Xuân Lộc ban đầu gồm 3 sư đoàn bộ binh 6, 7 và 341, 2 tiểu đoàn xe tăng, 1 trung đoàn pháo binh cùng lực lượng địa phương. Trong đó, Sư đoàn 7 và 1 tiểu đoàn xe tăng vừa tham gia trận hành tiến tiến công giải phóng Đường 20 đang trên đường quay về.
Do thời gian chuẩn bị quá gấp gáp, tướng Hoàng Cầm- Tư lệnh Quân đoàn 4 đề nghị cho lui ngày tiến công sang 9.4.1975. Tướng Trần Văn Trà đồng ý.
5 giờ 40 phút ngày 9.4.1975 trận đánh bắt đầu. Sau khi các trận địa pháo của quân đoàn bắn chế áp mục tiêu 1 giờ, các hướng mũi bộ binh được xe tăng dẫn dắt bắt đầu thực hành tiến công vào các mục tiêu được giao.
Trên hướng chủ yếu, Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7) và 8 xe tăng chiếm được một phần hậu cứ của chiến đoàn 52. Trên hướng thứ yếu, Trung đoàn 266 (Sư đoàn 7) đánh vào thị xã đã đến sát sở chỉ huy tiểu khu.
Tại vòng ngoài, các Trung đoàn 270 (Sư đoàn 341), Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7) đánh bại 2 tiểu đoàn của Chiến đoàn 43, 48. Ở khu vực Dầu Dây, Sư đoàn 6 diệt 5 chốt từ Hưng Nghĩa đến đèo Mẹ Bồng Con.
Nhìn chung, trên tất cả các hướng, phía VNCH chống trả rất quyết liệt. Một số xe tăng bị mìn, bị hỏng.
Ngày 10.4.1975, phía QGP tung lực lượng dự bị vào tham chiến. Phía VNCH trong thế cùng đường cũng đưa quân lên cứu viện, dựa vào công sự kiên cố chống trả điên cuồng đồng thời tăng cường đánh phá bằng không quân vào các cánh quân QGP hoặc hủy diệt các cứ điểm đã mất.
Sau 5 ngày tiến công, QGP vẫn không hoàn thành được tất cả các mục tiêu đề ra nên tạm dừng. Thấy vậy, tướng Lê Minh Đảo cho rằng QGP đã "hụt hơi". Ngày 14.4 Đảo tổ chức họp báo tại trận thách thức tướng Hoàng Cầm tiếp tục tiến công. Lê Minh Đảo không ngờ sấm sét đang chuẩn bị giáng xuống đầu mình từ hướng khác.
Cánh cửa thép Xuân Lộc bị chọc thủng - Mọi con đường vào Sài Gòn đã mở toang - Ảnh 3.
Đoàn quân giải phóng trên quốc lộ I từ Nha Trang tiến về giải phóng miền Nam.
Phía QGP, trước tình hình khó khăn của trận đánh, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 đã quyết định chuyển hướng tiến công: Không đánh vỗ mặt chính diện nữa mà đánh vào phía sau quân địch.
Cụ thể là: "Tập trung lực lượng đánh chiếm khu vực Ngã ba Dầu Dây và Núi Thị, đồng thời uy hiếp sở chỉ huy Quân đoàn 3 VNCH ở Trảng Bom, đánh địch ở Biên Hòa, Tràng Bom ra phản kích; pháo kích mạnh sân bay Biên Hòa, đẩy địch ở Xuân Lộc vào tình trạng hoang mang, bối rối vì bị cắt rời khỏi hậu phương, bị bao vây cô lập từ nhiều phía...".
Rạng sáng ngày 15.4.1975, khi pháo 130 ly bắt đầu bắn phá căn cứ không quân Biên Hòa, không cho máy bay từ đây yểm trợ Xuân Lộc thì Sư đoàn 6 được tăng cường Trung đoàn 95, hiệp đồng tiến công Chiến đoàn 52 (gồm Trung đoàn 52 của Sư đoàn 18, Lữ đoàn 3 Thiết kỵ, và các lực lượng Địa phương quân ở Kiệm Tân).
Đến cuối ngày QGP đã đánh chiếm được ngã ba Dầu Giây (giao điểm của Quốc lộ 1 với đường 20) và đoạn cuối đường 20 từ Trúc Tân đến Kiệm Tân, đánh bại nhiều cuộc phản kích từ Trảng Bom ra, uy hiếp sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 3 Việt Nam Cộng hòa đặt tại Trảng Bom.
Cùng ngày hôm đó, tại Xuân Lộc, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đồng thời tấn công, đánh lui hai chiến đoàn 43 và 48 của Sư đoàn 18, diệt một phần Lữ đoàn 1 Dù.

Quá trình lui quân của các lực lượng VNCH trong những ngày tiếp theo diễn ra trong mối lo thường trực bị QGP phục kích, tập kích bằng hỏa lực. Cho đến sáng ngày 21 tháng 4 những tuyến phòng thủ cuối cùng của Quân lực VNCH tại Xuân Lộc hoàn toàn tan rã.Mất Dầu Giây và đường 20, Biên Hòa trở thành điểm tiền tiêu; Xuân Lộc bị cô lập và mất vị trí quan trọng, tử thủ chẳng ích gì. Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn 3 Việt Nam Cộng hòa, ra lệnh rút bỏ Long Khánh. Ngày 18 tháng 4, một phần lực lượng ở Xuân Lộc được bốc bằng trực thăng về Biên Hòa - Trảng Bom lập phòng tuyến mới.
Đó cũng là thời điểm "Cánh cửa thép" Xuân Lộc đã chính thức bị chọc thủng. Mọi con đường vào Sài Gòn đã mở toang.

TRỞ TAY KHÔNG KỊP- TRUNG TƯỚNG BỊ BẮT SỐNG

Trở tay không kịp, trung tướng bị bắt sống: Những giờ cuối của BTL tiền phương QĐ 3 VNCH
QGP đập tan “lá chắn thép” Phan Rang của VNCH, giải phóng Ninh Thuận, mở đường tiến quân về giải phóng Sài Gòn. Ảnh tư liệu.

Trước sức tiến công mạnh mẽ của Quân giải phóng (QGP), cho tới cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1975, toàn bộ Quân khu 1 và phần lớn Quân khu 2 của VNCH đã rơi vào tay QGP.

Dưới sự cố vấn của Đại tướng Uây-en (John Wayne)- Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu quyết định xây dựng một tuyến phòng thủ mới với "cái neo đặt ở thị xã Phan Rang, lấy Xuân Lộc làm mũi nhọn và Tây Ninh là rìa phía tây" nhằm cố thủ phần đất còn lại.
Để thực hiện mưu đồ này, các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận vốn là phần còn lại của Quân khu 2 nay được sáp nhập vào Quân khu 3, đồng thời Thiệu tổ cho thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 và giao cho Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi - một thủ hạ tin cậy làm tư lệnh với lời hứa sẽ tăng cường tối đa lực lượng và phương tiện.
Hy vọng cuối cùng của Nguyễn Văn Thiệu
Ngày 4 tháng 4 năm 1975, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi tới Phan Rang nhậm chức. Ông ta đặt sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 trong sân bay Thành Sơn hiện đang là căn cứ của Sư đoàn 6 Không quân vừa mới di tản từ Plây-cu về.
Phụ tá cho Nghi có các chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 Bộ Binh (BB), chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang - Tư lệnh Sư đoàn 6 Không Quân (KQ) và đại tá Nguyễn Thu Lương - Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 2 Dù.
Theo nhận định của Nghi, Phan Rang nằm vào phía Nam của một thung lũng hẹp bao bọc bởi các dải núi về hướng Tây, Bắc và Đông Bắc, có các cao điểm và đèo Du Long rất thuận tiện cho việc phòng ngự. Vì vậy ông ta chủ trương:
"Phải chống giữ mặt Bắc từ Quận Du Long, mặt Tây từ Quận Tân Mỹ và phải giữ an toàn cho căn cứ Không quân, cũng như giữ an ninh cho Thị xã."
Trở tay không kịp, trung tướng bị bắt sống: Những giờ cuối của BTL tiền phương QĐ 3 VNCH - Ảnh 1.
Ngày 16-4-1975: Chiến thắng Phan Rang, giải phóng hoàn toàn tỉnh Ninh Thuận. Ảnh tư liệu.
Theo quan niệm đó, Trung tướng Nghi thảo ra kế hoạch phòng thủ Phan Rang với một lực lượng cỡ 2 sư đoàn. Đó là:
Mặt Bắc, trên Quốc lộ 1 trấn giữ các điểm cao tại đèo Du Long với một dải chiến tuyến hùng hậu tại Du Long cùng các tuyến phụ tại Bà Râu và Ba Tháp để ngăn chận mọi cuộc tấn công hướng vào thị xã hoặc vào căn cứ.
Mặt phía Tây, trên Quốc lộ 11, án ngữ tại vùng Tân Mỹ, một chiến tuyến để chận địch và bảo vệ mặt Tây và Nam của phi trường.
Bảo vệ an ninh cho thị xả và phi trường do các đơn vị chánh quy phối hợp với Địa phương quân phụ trách.
Tướng Nghi cùng các tướng lĩnh khác của Quân đoàn 3 VNCH cũng nhận định: Quân giải phóng đã đi quá xa hậu tuyến của mình, đồng thời phải củng cố các địa bàn mới chiếm được nên có nhanh cũng phải cỡ 20 ngày nữa mới tiếp tục tiến công được.
Thời gian đó đủ để tái phối trí lực lượng, thiết trí công sự, bổ sung vũ khí đạn dược... Vì vậy, tướng Nghi khá yên tâm với kế hoạch của mình.
Tuy nhiên, "mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên". Có rất nhiều chuyện xảy ra ngoài ý muốn con người.
Tạo thế bất ngờ, đánh nhanh thắng nhanh
Không như nhận định của các tướng lĩnh VNCH, phía Quân Giải phóng (QGP) đã có những quyết định hết sức táo bạo. Tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Tư lệnh cánh quân Duyên Hải đã quyết định sử dụng Sư đoàn 3 Sao Vàng - với lợi thế ở cự ly gần - gấp rút hoàn thành công tác chuẩn bị đánh Phan Rang, mở cửa cho Quân đoàn 2.
Ngày 14 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 3 bắt đầu tiến công đường hẻm Du Long. Bất ngờ trước sức tiến công của QGP, đường hẻm Du Long thất thủ.
Ngày 15 tháng 4 năm 1975, khi các lực lượng đi đầu của cánh quân Duyên Hải đã đến nam Cam Ranh, Sư đoàn 3 được lệnh lật cánh lên phía Tây để đánh vào sân bay Thành Sơn, nhường hướng tiến công chính diện theo Quốc lộ 1 cho Sư đoàn 325 và Lữ đoàn xe tăng 203 (thiếu).
Trở tay không kịp, trung tướng bị bắt sống: Những giờ cuối của BTL tiền phương QĐ 3 VNCH - Ảnh 2.
Đánh chiếm sân bay Thành Sơn, Phan Rang ngày 16-4-1975. Ảnh tư liệu.
Bất chấp các cuộc oanh kích dữ dội của Sư đoàn 6 KQ - VNCH, các hoạt động điều quân, chuyển quân diễn ra suốt đêm 15.4, tạo thành hai gọng kìm ép chặt Phan Rang.
5 giờ sáng ngày 16 tháng 4 năm 1975, trận tiến công Phan Rang bắt đầu. Các trận địa pháo với số lượng đạn dồi dào bắn cấp tập vào các cứ điểm dọc đường Quốc lộ 1 và sân bay Thành Sơn. Trong khi đó, xe tăng và bộ binh cũng triển khai tiến công.
Trên hướng Quốc lộ 1, với chiến thuật tiến công trong hành tiến, bộ binh của Sư đoàn 325 được đưa lên xe tăng, xe thiết giáp của Tiểu đoàn TTG4 dẫn đầu đội hình tiến công. Lần lượt các cứ điểm Bà Râu, Ba Tháp, Gò Đền, Cà Đú, Hội Diên bị công phá. Hơn 7 giờ ngày 16 tháng 4, Thị xã Phan Rang đã nằm trong tay QGP.
Song song với hướng tiến công dọc Quốc lộ 1, trên hướng Tây, Trung đoàn 25 và Sư đoàn 3 cũng đã áp sát và nố súng tiến công sân bay Thành Sơn.
Để nhanh chóng dứt điểm mục tiêu sân bay Thành Sơn, Bộ Chỉ huy Quân đoàn 2 đã chỉ thị cho sư đoàn 325 tổ chức thêm một mũi bộ binh, xe tăng, từ thị xã Phan Rang đánh lên sân bay.
Ngay sau khi nhận được mệnh lệnh của cấp trên, Trung đoàn 101 lập tức phái Đại đội 3 bộ binh cùng với xe tăng và hai trung đội của Đại đội 2 bộ binh tiến lên phía tây bắc, đánh chiếm sân bay Thành Sơn.
Khi xe tăng và bộ binh Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 101 vận động đến quận lỵ Bửu Sơn (Tháp Chàm) phát hiện địch, QGP lập tức tách làm 2 mũi: mũi số 1 chọc thẳng vào cổng số 1 sân bay Thành Sơn; mũi thứ 2 đánh vào quận lỵ Bửu Sơn. Đến 9 giờ 20 phút, Đại đội 2 và xe tăng chiếm gọn quận lỵ Bửu Sơn.
Thừa thắng, bộ binh và xe tăng QGP đánh thẳng vào khu vực đường băng chính. Trên hướng bắc sân bay, lúc này, Trung đoàn 25 và Sư đoàn 3 dùng mìn liên kết phá tung 11 lớp rào kẽm gai, đánh tràn vào căn cứ. Một mũi khác dánh thẳng vào cổng số 2.
Đến 9 giờ 30 phút, Trung đoàn BB 101 có xe tăng của Lữ đoàn 203 phối hợp, cùng với các mũi tiến công của bộ binh Trung đoàn 25, Sư đoàn 3 gặp nhau ở khu vực đài chỉ huy sân bay. QGP hoàn toàn làm chủ sân bay, thu 40 máy bay còn nguyên vẹn.
Trở tay không kịp - Bó tay chịu trói
Tại Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 VNCH, vào 8.00 giờ sáng ngày 16 tháng 4, Đại tá Biết Liên Đoàn Trưởng Liên đoàn 31BĐQ báo cáo là Du Long đã bị tràn ngập và QGP đã vào thị xã. Trung tướng Nghi mời Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt vào để duyệt xét tình hình. Tướng Nhựt cho biết các đơn vị của ông ta đang chạm QGP và sau đó trở ra đi thị sát mặt trận.
Trong khi đó, QGP vẫn giữ mức độ pháo kích chế áp từng chập vào sân bay. Nhân có các khoảng trống giữa những đợt pháo kích, một số máy bay đã rời căn cứ.
Khoảng 9.00 giờ sáng, một trực thăng vũ trang bị tên lửa A72 bắn rơi tại ngọn đồi gần sân bay. Trung đoàn 4 báo cáo đang chạm QGP. Trong lúc đó xe tăng QGP đã xuất hiện ở cổng số 1 sân bay.
Tuy vậy, đến lúc đó, Trung tướng Nghi vẫn tin tưởng vào khả năng chiến đấu của Trung đoàn 4 bảo vệ phi trường và Trung đoàn 5 án ngữ ngăn chặn QGP tràn vào cổng số 1 của căn cứ.
Đến khoảng gần 10 giờ, khi tiếng súng càng lúc càng dồn dập, Tướng Nghi liền mời Chuẩn tướng Sang, Đại tá Lương tới họp để tái duyệt xét tình hình. Vì mặt trận đã bị thủng từ Du Long và QGP đang hăm dọa căn cứ nên Trung tướng Nghi dự tính sẽ dời Bộ Tư lệnh Tiền phương về Cà Ná để lập tuyến phòng thủ mới.
Trở tay không kịp, trung tướng bị bắt sống: Những giờ cuối của BTL tiền phương QĐ 3 VNCH - Ảnh 3.
Thấy không thể trùng trình được nữa, tướng Phạm Ngọc Sang giục tướng Nghi: "Tôi đã chuẩn bị sẵn một máy bay do Trung tá Lê Văn Bút, Không đoàn trưởng Không đoàn chiến thuật 72 lái, rất tin cẩn. Xin mời trung tướng đi trực thăng lên trời chỉ huy. Tánh mạng của trung tướng là quan trọng".
Tướng Nghi trả lời: "Cám ơn, nhưng chưa nên vội". Và ông ta vẫn bám chặt lấy ống nghe máy điện đài.
Nửa giờ sau, Tư lệnh sư đoàn 2 BB Trần Văn Nhựt báo cáo: "Sư 2 không còn sức phản công, Cộng quân đã vào chiếm các đồi ở phía bắc". Cùng lúc, đại tá Nguyễn Văn Biết, chỉ huy Liên đoàn 31 BĐQ giữ cổng số 2 cũng báo cáo: "Quân biệt động đã tan rã hết rồi. Cổng số 2 đang bị tràn ngập!".
Trở tay không kịp, trung tướng bị bắt sống: Những giờ cuối của BTL tiền phương QĐ 3 VNCH - Ảnh 4.
Binh lính Sư đoàn 2 ngụy quân Sài Gòn ra hàng Quân giải phóng. Ảnh tư liệu TTXVN.
Chỉ đến lúc đó, tướng Nghi mới hạ lệnh: "Tất cả rút chạy!" rồi quăng ống nghe tổ hợp PRC25 xuống. Các tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Phạm Ngọc Sang và Đại tá Nguyễn Thu Lương định chạy ra máy bay lên thẳng nhưng không được vì đạn đại liên từ các quả đồi phía bắc sân bay bắn xuống xối xả.
Không còn cách nào khác, Trung tướng Nghi ra lệnh rời căn cứ bằng đường bộ, từng đơn vị theo đơn vị trưởng mình rút theo hướng Nam về Cá Ná để lập phòng tuyến mới.

Nhưng mọi ngả đường đã bị bít chặt. Tối 16-4, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang cùng nhiều sĩ quan của Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 VNCH đang lẩn trốn ở khu vực bãi mía thuộc thôn Mỹ Đức (nằm giữa sân bay Thành Sơn và thị xã Phan Rang) đã bị lực lượng truy quét tàn binh của Sư đoàn 3 tóm gọn.Trung tướng Nghi, Chuẩn tướng Sang, Đại tá Lương, ông Lewis - chuyên viên Tòa Đại sứ Mỹ cùng các quân nhân của Bộ Tư lệnh Tiền phương, Sư đoàn 6 KQ, Lữ Đoàn 2 Dù cùng các toán quân lẻ tẻ khác vào khoảng vài trăm người rời căn cứ tiến ra cổng số 1 đi về hướng Nam.
Thế là niềm hy vọng cuối cùng của Nguyễn Văn Thiệu vào "Lá chắn thép" Phan Rang và tên thủ hạ tin cậy Nguyễn Vĩnh Nghi đã tan thành mây khói!

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2018

KÉO PHÁO LÊN DÃY LƯỠI CÁI CẮT ĐỨT ĐƯỜNG 1- SỐ PHẬN THỪA THIÊN HUẾ ĐÃ ĐƯỢC ĐỊNH ĐOẠT

Ngay lập tức, trận địa pháo được triển khai. Sau vài loạt bắn, giao thông trên đường 1 trở nên hỗn loạn. Hàng đoàn xe từ Huế chạy về Đà Nẵng bị ùn lại, cuống cuồng quay đầu về Huế.

Sau quyết định lật cánh của Bộ Tư lệnh Mặt trận Trị - Thiên chuyển hướng tiến công chủ yếu từ Tây Bắc xuống Tây Nam Huế, một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải cô lập được Huế.
Và giải pháp được lựa chọn là cắt đứt đường số 1, đồng thời phong tỏa cửa Thuận An, cửa Tư Hiền; trong đó cắt đứt đường số 1 là ưu tiên hàng đầu.
Trên mặt trận Trị Thiên, sau những nỗ lực của đợt 1 chiến dịch và hiệu ứng từ sự sụp đổ dây chuyền của Quân khu 2 Việt Nam cộng hòa (VNCH), Bộ Tư lệnh quân đoàn 1 VNCH quyết định lùi về củng cố tuyến phòng ngự từ sông Mỹ Chánh trở vào.
Tử thủ và quyết thắng
Ngày 19.3.1975, chớp thời cơ địch rục rịch rút quân, Đại đội xe tăng 7, Lữ đoàn 203 cùng bộ đội địa phương nhanh chóng truy kích địch và giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.
Tướng Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Quân đoàn 1 VNCH vội bay ra Hướng Điền bàn kế hoạch giữ Thừa Thiên Huế. Y tuyên bố: "Tôi sẽ chết trên đường phố Huế. Quân Giải phóng (QGP) phải bước qua xác tôi mới vào được cố đô này".
Trước tình hình này, tại Tổng hành dinh, sau khi trao đổi với các tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp hạ quyết tâm mở trận tiến công lớn, tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên - Huế.
Ông kể: "Tôi chỉ thị cho Bộ Tổng Tham mưu đôn đốc Quân khu Trị - Thiên gấp rút đưa lực lượng xuống đồng bằng, lệnh cho Quân đoàn II nhanh chóng cắt đứt đường số 1, không cho địch rút về co cụm ở Đà Nẵng". Thời hạn ông đưa ra cho Quân đoàn 2 phải cắt đứt đường số 1 vào ngày 21.3.1975.
Kéo pháo lên dãy Lưỡi Cái, cắt đứt đường 1: Số phận Thừa Thiên Huế đã được định đoạt - Ảnh 1.
Pháo binh Việt Nam. Ảnh minh họa.
Thời điểm này, lực lượng phía VNCH bảo vệ tuyến đường 1A gồm có Lữ đoàn 258 Thủy quân lục chiến, Liên đoàn 915 Biệt động quân, 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 1, Lữ đoàn 914 bảo an... Nhìn chung, lực lượng khá mạnh, được tổ chức theo kiểu phòng ngự khu vực với hệ thống công sự, vật cản tương đối vững chắc.
Về phía Quân giải phóng, một số đơn vị vẫn còn đang cơ động từ Quảng Trị vào sau quyết định lật cánh của Bộ Tư lệnh mặt trận.
Riêng với Sư đoàn 325 - đơn vị chủ công ở hướng Tây Nam vốn chỉ còn 2 trung đoàn bộ binh 18 và 101 cùng Trung đoàn pháo binh 84 (do Trung đoàn 95 đã được điều đi tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên) thì Trung đoàn 101 vẫn còn một bộ phận chưa vào đến vị trí mới.
Mặc dù vậy, chấp hành mệnh lệnh cấp trên Bộ Tư lệnh quân đoàn vẫn lệnh cho Sư đoàn 325 bằng mọi cách phải thực hiện được chỉ thị của Tổng Tư lệnh.
Căn cứ vào địa hình, địa thế khu vực đoạn quyết chiến đánh cắt đường số 1 được lựa chọn là đoạn đường số 1 kẹp giữa đầm Cầu Hai và dãy Bạch Mã. Đầm Cầu Hai là đầm nước lợ có diện tích lên đến 164 km2, có chiều dài trên dưới 60 km theo hướng Bắc - Nam. Còn Bạch Mã là một nhánh của dãy Trường Sơm đâm ra phía biển Đông mà nơi nó vươn xa nhất là đèo Hải Vân.
Nằm kẹp giữa một bên đầm nước, một bên núi cao là dải đồng bằng nhỏ hẹp thuộc địa phận hai huyện Hương Thủy và Phú Lộc của Thừa Thiên Huế. Đường số một như một sợi chỉ mỏng manh len lỏi giữa dải đồng bằng đó.
Nhận thức được sự hiểm yếu và tầm quan trọng của đoạn đường 1 đi qua khu vực này, phía VNCH đã tổ chức chiếm giữ một loạt các điểm cao thuộc dãy Bạch Mã, hình thành nên tuyến phòng thủ phía tây đường khá vững chắc.
Cụ thể, trên các điểm cao 560, 940, 520, Lộc Điền, Dàn Bò (366) do Tiểu đoàn 61 Biệt động quân chiếm giữ, sở chỉ huy ở điểm cao 560. Dãy Kim Sắc do Tiểu đoàn 60 Biệt động quân chốt giữ. Điểm cao 363 do Tiểu đoàn 8 Thủy quân lục chiến cùng một trung đội pháo 105 chốt giữ...
Để làm chủ được đoạn đường số 1 này, phía QGP không còn cách nào khác ngoài việc phá vỡ hệ thống phòng thủ đó.
Kéo pháo lên núi Lưỡi Cái, cắt đứt đường số 1
Với lực lượng đang có trong tay, việc chọc thủng tuyến phòng ngự phía Tây đường số 1 không hề dễ dàng. Ngoài ra, nếu địch cầm cự cố thủ thì thời hạn cắt đứt đường số 1 sẽ bị chậm trễ.
Một giải pháp táo bạo được đưa ra: kéo pháo lên núi Lưỡi Cái. Tư lệnh Nguyễn Hữu An nhớ lại: "Việc cắt đứt đường số 1, bộ binh không đủ thời gian tới đó được, tôi đốc anh Phạm Minh Tâm- Tư lệnh Sư đoàn 325 đưa thật gấp một số đơn vị pháo tới sườn dãy núi Lưỡi Cái làm trận địa ngắm bắn trực tiếp xuống đường số 1".
Kéo pháo lên dãy Lưỡi Cái, cắt đứt đường 1: Số phận Thừa Thiên Huế đã được định đoạt - Ảnh 2.
Bộ đội ta tiến vào Huế, hai bên đường là những vũ khí, phương tiện quân VNCH bỏ lại. Ảnh tư liệu.
Dãy núi Lưỡi Cái cũng là một nhánh của dãy Bạch Mã, có độ cao tới 863 mét, cách đường số 1 khoảng 3 km.
Đưa được pháo lên đây làm trận địa ngắm bắn trực tiếp không chỉ khống chế được một đoạn đường số 1 mà còn có thể bắn trực tiếp vào dãy Kim Sắc và các điểm cao trong hệ thống phòng ngự phía Tây đường số 1 của VNCH. Hơn thế nữa, pháo đặt ở đây còn có thể khống chế cửa Tư Hiền và trận địa pháo ở Mũi Né.
Và thế là hơn 20 km đường mới được mở. Xe cơ giới kéo pháo theo đường 14 B (nay là đường 591 nối La Sơn với Khe Tre) đến lưng chừng Động Truồi rẽ theo đường mới đến chân dãy Lưỡi Cái thì được tháo ra khỏi xe.Vấn đề đặt ra là làm sao đưa được pháo lên đó khi không có đường cơ giới - trong khi dốc lại cao, có chỗ lên đến 40 độ? Và câu trả lời là: Sức người! Ở Điện Biên Phủ các bậc tiền bối đã làm được, lẽ nào hậu thế lại bó tay.
Từ đây, mỗi khẩu pháo được hàng trăm bàn tay chiến sĩ chăm sóc. Người chỉ huy, người kéo, người đẩy, người chèn... Có một cái khó là để giữ bí mật, các chiến sĩ kéo pháo không được "hò dô ta" mà chỉ được đếm nhẩm theo hiệu lệnh phất khăn mặt trắng của người chỉ huy.
Kết quả, trong ngày 20.3.1975, Trung đoàn 84 với sự hỗ trợ của các đơn vị bạn đã đưa được 12 khẩu pháo các loại, trong đó có cả pháo nòng dài 122mm, 85 mm, pháo cao xạ 37 mm hai nòng cùng hàng chục dàn DKB lên dãy Lưỡi Cái.
Kéo pháo lên dãy Lưỡi Cái, cắt đứt đường 1: Số phận Thừa Thiên Huế đã được định đoạt - Ảnh 4.
Bãi xác xe pháo Quân lực VNCH tại Huế bị phá hủy bởi pháo binh Quân Giải phóng.
Ngay lập tức, trận địa bắn được triển khai. Sau vài loạt bắn, giao thông trên đường số 1 trở nên hỗn loạn. Hàng đoàn xe từ Huế chạy về Đà Nẵng bị ùn lại, cuống cuồng quay đầu về Huế. Đường số 1 tuy chưa bị cắt đứt hoàn toàn song đã bị khống chế bằng hỏa lực.
Kéo pháo lên dãy Lưỡi Cái, cắt đứt đường 1: Số phận Thừa Thiên Huế đã được định đoạt - Ảnh 5.
Ngày 21.3.1975, cũng từ trận địa này, pháo binh lại chi viện đắc lực cho Trung đoàn 18 đánh chiếm các điểm cao 494, 520, 560... và Trung đoàn 101 đánh chiếm các điểm cao 310, 320, dãy Kim Sắc...
Hệ thống phòng thủ Tây đường số 1 bị chọc thủng ở những điểm xung yếu nhất nhanh chóng sụp đổ. Đến 10 giờ 30 ngày 22.3.1975, Sư đoàn 325 đã làm chủ đoạn đường số 1 từ Bạch Thạch đến Dàn Bò với chiều dài khoảng 4 km.
Đường số 1 bị chặn hoàn toàn, mối liên hệ giữa cánh Bắc với cánh Nam Quân khu 1 VNCH bị cắt đứt, Huế như "trứng để đầu đẳng" và kết cục như thế nào không cần nói ai cũng biết!
(Bài viết có sử dụng một số tư liệu trong cuốn "Tổng hành dinh trong mùa Xuân đại thắng"- Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và "Chiến trường mới"- Hồi ký của Thượng tướng Nguyễn Hữu An).

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2018

CÚ LẬT CÁNH TÁO BẠO VÀ HIỂM HÓC CỦA QUÂN ĐOÀN 2

Để chuẩn bị cho những trận đánh lớn trong tương lai, ngày 17 tháng 5 năm 1974, Quân đoàn 2 được thành lập tại khu vực Ba Lòng (Quảng Trị).


Vì được thành lập trên cơ sở những đơn vị có nhiều năm gắn bó với chiến trường Trị Thiên nên Quân đoàn 2 còn có tên là Binh đoàn Hương Giang.
Những ngày đầu trứng nước và thế bố trí hai bên
Khi mới thành lập, Tư lệnh Quân đoàn 2 là Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Chính ủy là Thiếu tướng Lê Linh. Biên chế của Binh đoàn Hương Giang gồm có 3 sư đoàn bộ binh: 304, 324, 325, Sư đoàn phòng không 673, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn thông tin 463 và một số đơn vị trực thuộc khác.
Chiến trường Trị Thiên là nơi đối đầu trực tiếp giữa hai chế độ, lại vừa trải qua những cuộc chiến đẫm máu năm 1972 và chống lấn chiếm năm 1973 nên vẫn còn hừng hực mùi thuốc súng. Chính vì vậy, cả hai bên đều bố trí tại đây lực lượng quân sự khá hùng hậu.
Về phía Việt Nam Cộng hòa (VNCH), tại địa bàn Quân khu 1 là toàn bộ Quân đoàn I Quân lực VNCH được tăng phái hai sư đoàn trù bị là Sư đoàn Dù và Sư đoàn Thủy quân lục chiến (TQLC) cùng rất nhiều lực lượng khác. Bởi vậy, đây là quân đoàn mạnh nhất trong 4 quân đoàn của Quân lực VNCH.
Riêng trên chiến trường Trị Thiên có Sư đoàn BB1, Sư đoàn TQLC, các liên đoàn biệt động quân 4 và 15, các liên đoàn bảo an 913, 914; các thiết đoàn số 17 và 20; 10 tiểu đoàn pháo binh; 1 tiểu đoàn cao xạ tự hành; 1 phi đoàn trực thăng; 2 phi đội trinh sát; hải đoàn duyên phòng 106.
Các lực lượng này chịu trách nhiệm phòng thủ phần còn lại của tỉnh Quảng Trị và toàn bộ tỉnh Thừa Thiên, từ Nam sông Thạch Hãn đến sườn phía Bắc dãy núi Bạch Mã. Chỉ huy hướng này là Trung tướng Lâm Quang Thi, Phó tư lệnh Quân đoàn I, đóng Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn tại Huế.
Cú lật cánh táo bạo, hiểm hóc của Quân đoàn 2 mùa Xuân 1975: Cắt phăng Thừa Thiên Huế - Ảnh 1.
Xác xe tăng quân địch bị Quân Giải phóng thiêu cháy tại bãi biển Thuận An tháng 3/1975.
Về phía Quân giải phóng, tại Trị Thiên ngoài lực lượng Quân đoàn 2 còn có thêm một số trung đoàn, tiểu đoàn bộ đội địa phương (BĐĐP) của Quân khu Trị Thiên.
Chuẩn bị cho Xuân Hè 1975, Cục Tác chiến đã đề xuất chọn hướng chiến dịch là hướng đường 12 (nay là Quốc lộ 49 nối Huế với A Lưới) và bắc đường 12- tức là Tây Bắc Huế. Các loại vật chất đảm bảo cho chiến dịch được tập kết theo hướng này. Còn việc bố trí lực lượng cũng tương tự.
Cụ thể: Sư đoàn 325 phòng ngự ở mặt bắc, Sư đoàn 304 ở hướng Tây Bắc, còn Sư đoàn 324 ở hướng Tây. Các đơn vị BĐĐP cũng tập trung ở hướng Tây Bắc Huế là chính. Tất cả đã sẵn sàng cho trận đánh.
Cú lật cánh táo bạo, hiểm hóc của Quân đoàn 2 mùa Xuân 1975: Cắt phăng Thừa Thiên Huế - Ảnh 2.
Quân giải phóng tiến vào Đại Nội - Huế ngày 25/3.
Cú "lật cánh" táo bạo và hoàn hảo
Tháng 1 năm 1975, sau khi đi học ở Liên Xô về, Thiếu tướng Nguyễn Hữu An được cử làm Tư lệnh Quân đoàn 2 thay cho Thiếu tướng Hoàng Văn Thái.
Ngày 21 tháng 2 năm 1975, Bộ tư lệnh mặt trận Trị Thiên có sự tham dự của các chỉ huy Quân đoàn 2 và Quân khu Trị Thiên đã thông qua kế hoạch hành động quân sự xuân hè 1975 (mật danh K175) dự kiến từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1975 và kế hoạch chiến dịch mùa thu 1975 dự kiến từ tháng 7 đến tháng 8 năm 1975.
Với lực lượng tổng cộng 7 trung đoàn trên hướng Trị-Thiên và 4 trung đoàn trên hướng Đà Nẵng, Bộ Tư lệnh mặt trận Trị-Thiên vạch kế hoạch ban đầu cho chiến dịch với mục tiêu trước mắt là đánh chiếm toàn bộ tỉnh Quảng Trị, bao vây cô lập Huế và nếu có điều kiện phát triển thì đánh chiếm toàn bộ địa bàn Trị Thiên Huế.
Để thực hiện ý đồ trên đây, hướng tấn công chính của Quân đoàn 2 được điều chỉnh từ Tây Bắc Huế (hướng đường 12) xuống Tây Nam Huế (hướng đường 14) nhằm mục tiêu cô lập toàn bộ cánh Bắc của Quân đoàn 1 Quân lực VNCH với cánh Nam (Đà Nẵng và Quảng Nam-Quảng Ngãi).
Toàn bộ địa bàn Trị Thiên được chia thành 5 khu vực tấn công gồm: Khu vực Quảng Trị (từ Nam Sông Thạch Hãn đến sông Mỹ Chánh); khu vực Bắc Thừa Thiên (Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà); khu vực thành phố Huế và ngoại vi; Khu vực đồng bằng Nam Huế Phú Vang, Hương Thuỷ; các trọng điểm giao thông trên đường số 1 tại Phú Lộc và bắc Hải Vân.
Sở dĩ có sự điều chỉnh hướng chiến dịch là bởi những phân tích rất sắc sảo của đại diện Bộ Tổng Tham mưu và các tướng lĩnh trong Bộ Tư lệnh mặt trận. Chọn hướng Tây Nam thì địch sẽ rất bất ngờ, lại tiện triển khai lực lượng và binh khí kỹ thuật.
Ngoài ra, địa hình khu vực Phú Lộc, nơi Quốc lộ 1 chạy ven đầm Cầu Hai dưới chân dãy Lưỡi Cái là nơi rất xung yếu, dễ dàng chia cắt, cô lập Huế với Đà Nẵng.
Để thực hiện ý định này, buộc phải điều chỉnh thế bố trí trên toàn mặt trận. Sư đoàn 325 ngay lập tức bàn giao trận địa cho lực lượng địa phương và cơ động về khu vực Nam Đông, Khe Tre.
Cú lật cánh táo bạo, hiểm hóc của Quân đoàn 2 mùa Xuân 1975: Cắt phăng Thừa Thiên Huế - Ảnh 3.
Bộ đội tiến vào giải phóng Ngọ Môn Huế.
Sư đoàn 324 chuyển từ A Lưới, Đường 12 xuống khu vực Vũng Tròn, Động Truồi. Sư đoàn 304 (thiếu) tiếp tục trấn giữ phía Tây Bắc Quảng Trị. Các đơn vị tăng, pháo được cơ động vào A Lưới sẵn sàng đánh địch.
Cú lật cánh táo bạo, hiểm hóc của Quân đoàn 2 mùa Xuân 1975: Cắt phăng Thừa Thiên Huế - Ảnh 4.
Hàng trăm km đường mới được mở. Hàng nghìn tấn lương thực, đạn dược phải vận chuyển từ hướng đường 12 sang hướng đường 14. Tất cả những động thái đó của một cú "lật cánh" chiến lược diễn ra hết sức khẩn trương song cũng vô cùng bí mật.
Nhờ có cú lật cánh táo bạo và hoàn hảo này nên chỉ sau hai tuần từ ngày bắt đầu nổ súng (08.3.1975), ngày 22.3.1975, Sư đoàn 325 đã làm chủ đoạn Quốc lộ 1 từ Bạch Thạch đến Dàn Bò (thuộc Phú Lộc, Thừa Thiên), hoàn toàn cô lập Huế với phần phía Nam Quân khu 1, tiến tới giải phóng hoàn toàn tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 25.3.1975.
Từ Tây Bắc xuống Tây Nam - thật là một cú "lật cánh" hết sức táo bạo song cũng vô cùng hoàn hảo và ngoạn mục!
(Bài có sử dụng một số tư liệu trong "Chiến trường mới" - Hồi ký của Thượng tướng Nguyễn Hữu An, NXB QĐND)

Thứ Ba, 23 tháng 1, 2018

BAY LÊN CÙNG TRÁI BÓNG

Tặng các tuyển thủ U23VN và những người yêu bóng đá!

1-
Cầu trường bừng lên như sóng
Khán đài đỏ thắm màu cờ
Trái tim dồn vang nhịp đập
Cùng vang lời Tiến quân ca
Hỡi những chiến binh quả cảm
Thấp bé thì có sao đâu
Sức ta yếu hơn đội bạn
Thì ta sẽ đá bằng đầu
2-
Lại như cha anh thuở trước
Vùng lên đánh đổ bạo quyền
Hôm nay con em tiếp bước
Rạng danh Tổ quốc non sông
Biết bao người từng ngã xuống
Cho cuộc đời tươi đẹp hơn
Cùng bay lên theo trái bóng
Đất nước mình sẽ hóa rồng
ĐK
Tiến công tiến công không nghỉ
Sút tung lưới của đối phương
Phòng ngự chặt không mệt mỏi
Cầu môn ta vững thành đồng
Sút, sút, sút!
Vào, vào, vào
Sút sút sút
Vào vào rồi
Cầu môn đối phương rung chuyển
Bàn này dành tặng dân tôi
(Bàn này tặng Tổ quốc tôi)



Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018

CAO NGUYÊN GENTING- ĐIỂM VUI CHƠI TRÊN 2000 MÉT

Nằm ở độ cao 2000 mét, CN Genting có khí hậu mát mẻ, ôn hòa. Tại đây có các công viên vui chơi ngoài trời, trong nhà, có khách sạn hơn 6000 phòng- đã từng giữ kỷ lục TG. Và đặc biệt, ở đây có casino Sky duy nhất ở Malaixia với hơn 3000 máy đánh bạc, tấp nập suốt ngày đêm.




Cáp treo






Trung tâm mua sắm