Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2017
Thứ Năm, 5 tháng 10, 2017
BÚT KÝ LÍNH TĂNG- HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP- 47
Vĩ Thanh
14
giờ ngày 30
tháng tư - khi các đơn vị khác đang
được nghỉ ngơi tận hưởng niềm vui chiến thắng thì Đại đội 4 lại
được giao nhiệm vụ: "Cơ động đánh chiếm
cảng Sài Gòn và khống chế mọi sự đi lại trên
sông".
Vẫn với tác phong sẵn sàng chiến đấu cao nên chỉ mấy
phút sau khi nhận lệnh đại đội đã lên đường được ngay. Rời Dinh Độc Lập toàn đại đội chở theo một số bộ binh, thành một hàng dọc
đi về phía mục tiêu. Lúc này đường phố Sài Gòn đã trở nên đông đúc, nhộn nhịp vô cùng. Bà
con đứng kín hai bên đường vẫy cờ, vẫy hoa đón mừng nhưng mấy chiếc xe
tăng vẫn mải miết đi để lại trên mặt
đường nhựa phẳng lì những tảng đất mà hai băng xích đã cuốn lên từ bãi cỏ trước
Dinh Độc Lập. Qua một cây cầu
đường phố trở nên nhỏ hơn và cũng đông đúc hơn nên đội hình phải đi chậm và rất
thận trọng. Và rồi một khung cảnh hỗn độn diễn ra trước mắt
những người
lính trẻ, hàng đoàn người, cả dân,
cả cảnh sát, cả lính... cởi trần trùng trục đang khuân hàng từ trong một cái cổng có
hai cánh cổng sắt mở toang ùn
ùn kéo ra.
Chúng tôi nhận ra đây chính là cổng vào Cảng Sài Gòn và cái đám hỗn độn kia
chính là đám hôi của lúc tranh tối tranh sáng. Biết vậy rồi, anh em bộ binh ngồi trên xe giương
súng lên trơì bắn từng loạt để dẹp song không ăn thua, họ vẫn nhơn nhơn không sợ. Chắc họ biết
bộ đội Giải phóng chỉ bắn dọa mà thôi chứ không bắn vào họ. Một
ông già ôm một thùng rượu trong tay đã không tỏ ra sợ hãi mà còn hớn hở cười tung lên xe một chai
rượu ngoại... Tình
hình có vẻ rất căng. Dù sao đây cũng là tài sản của Nhà nước cần phải bảo vệ. Đại
đội trưởng Thận yêu cầu cánh lính bộ binh xuống xe để mở đường cho xe tăng tiến
vào cảng. Chỉ đến khi xe 390 vào được
cổng cảng và bắn một phát pháo thì tình hình mới được cải thiện. Giữa những
ngôi nhà cao tầng, tiếng nổ của trọng pháo 100 ly như dữ dội hơn, tác động của
sóng xung kích cũng mạnh hơn thì phải nên hết thảy số người đang hôi của quẳng hàng nằm rạp xuống đất rồi lẳng lặng tản
đi. Từ lúc đó toàn bộ khu vực cảng mới yên tĩnh trở lại.
Khi
tất cả các xe của đại đội đã vào phía trong bến
cảng, đại đội trưởng
Bùi Quang Thận cho dàn đội hình hướng
pháo ra sông và cắt cử người canh gác các kho hàng, đồng thời
đóng hai cánh cổng sắt lại. Trên bến cảng
lúc này lổng chổng một đống gỗ súc và mấy chiếc xe du lịch đủ các màu đỗ lộn xộn,
các cửa xe mở toang, còn nguyên cả chìa khóa cắm trong ổ. Chắc đây là xe của những
người đi di tản bằng đường thủy bỏ lại. Đậu ngay tại cảng là một chiếc tàu vận
tải loại nhỏ, trên sườn tàu trắng toát là mấy chữ Trung Quốc đỏ rực nhưng trên
tàu không một bóng người. Toàn bộ khu vực cảng cũng không còn một nhân viên nào
ở lại làm việc. Còn mười cái nhà kho, những
ngôi nhà khung sắt, mái tôn rộng mênh mông trong cảng thì thật là hỗn độn. Hàng
hóa bị những
người hôi của bới lộn lung tung
nhưng còn bạt ngàn, vô thiên lủng và đủ các thứ trên đời.
Vốn chẳng mặn
mà lắm với các thứ chiến lợi phẩm, cánh lính tăng
nhặt mỗi xe một ít vải để bảo dưỡng xe, mấy thứ bát đũa, phích đựng nước và một ít thực phẩm, còn lại sắp xếp tàm tạm rồi
đóng chặt cửa lại.
Ngoài bến cảng, mấy
chiếc xe tăng pháo đánh thấp gườm gườm chúc xuống lòng sông có tác dụng ngay tức
khắc. Thấy hai chiếc tàu nối đuôi nhau chạy ngược sông trung
đội trưởng Trị khẽ vẫy tay một cái là cả hai giảm tốc độ rồi từ từ tấp vào cầu
cảng. Khi nghe yêu cầu kiểm tra, các chủ tàu lễ phép mang giấy tờ ra trình báo.
Họ báo cáo rằng mình là tàu dân sự nhưng bị lính Việt Nam cộng hòa ép phải chở
ra Vũng Tàu và bây giờ đang trở về nhà. Thấy mấy chục khẩu súng các loại vứt lộn
xộn ở hầm tàu, chúng tôi hỏi thì họ bảo cũng do đám lính đó bỏ lại. Ngoài ra
còn một đống quần áo, giày mũ và hai hòm pháo sáng. Chúng tôi khuân tất cả lên
bờ. Sau khi kiểm tra thấy giấy tờ hợp lệ đúng như khai báo chúng tôi cho họ đi
về nhà. Tuy nhiên, suốt chiều hôm đó cũng chỉ có thêm vài trường hợp nữa cần phải
kiểm tra. Có lẽ bà con còn mải đổ ra phố đón mừng Quân giải phóng.
Chiều
xuống dần.
Gió lồng lộng thổi. Trên sông từng đám lục bình lặng lẽ trôi. Bình yên quá đỗi. Dường như
không hề có một cuộc chiến khốc liệt nào vừa mới xảy ra cả. Như là một chiều trên một bến sông quê nào đó mà
thôi. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận
gọi cả đại đội ra ngồi sát mép cầu cảng hóng gió và
tuyên bố: "Hòa bình rồi! Giờ chúng ta ăn mừng thắng lợi!". Hai con mực khô vừa nhặt được trong kho đem ra nướng tỏa
mùi thơm lừng. Một chai rượu đen mờ chả biết
hiệu gì được mở và rót ra một cái bát sắt,
cả đại đội chuyền tay nhau uống. Ba thùng pháo sáng thu được cũng được
khui ra, cánh
lính trẻ thi nhau bắn lên trời. Những
chùm pháo sáng lung linh trên bầu trời Sài Gòn
tím thẫm như đêm hội hoa đăng mừng chiến thắng. Chai rượu tiếp tục được chuyền
tay. Khổ! Lính trẻ, vừa lớn lên là vào chiến trường đã biết bia rượu thế nào
đâu, uống vào chỉ thấy nóng ran trong cổ, trong bụng nhưng thật là ngây ngất;
cái ngây ngất chắc không phải chỉ vì men rượu.
Sau những ngày đêm hành quân chiến đấu mệt mỏi, lại có chút
rượu vào người, cộng với chỗ nằm thoải mái, mát mẻ trong dãy nhà công vụ của cảng
đêm hôm đó chúng tôi ngủ say như chết, tất nhiên là trừ những người làm nhiệm vụ
canh gác.
Sáng
1.5, dẫu ngủ đã mắt rồi nhưng số đông anh em còn nằm rốn mãi mới dậy. Mấy tay
pháo thủ vốn đã khoẻ sẵn đang rủ nhau đi chơi phố Sài Gòn. Số còn lại cũng chẳng
thiết tha cho lắm bởi
Sài Gòn đã ở ngay bên ngoài cổng, lúc
nào đi thăm chả được. Nhưng họ đã nhầm!
Ngay chiều hôm đó Đại đội 4 có lệnh cơ động. Thành phố lạ, chẳng biết đường cũng chẳng có bản đồ
nên cứ bám xe trước mà đi dù chẳng biết đi đâu. Mãi đến khuya thì đội hình mới
dừng lại và cũng đến lúc đó lính tráng mới
biết mình đang ở trong Tổng kho Long Bình. Thế là hầu hết anh em trong đại đội chưa hề được biết gì thêm về Sài
Gòn, về cái thành phố mà họ vừa
tham gia giải phóng. Tiếp đó là những ngày bận rộn
chuẩn bị xe pháo để tham gia diễu binh mừng chiến thắng, rồi bình công báo
công… và bắt đầu có những thay đổi lớn đến với Đại đội 4 này.
Tiếp đó một số cán bộ, chiến sỹ trong đại đội được cử đi học tại Trường sĩ
quan Tăng Thiết Giáp như trung đội phó Phạm Xuân Tráng, lái xe Nguyễn Khắc Nguyệt,
pháo hai Nguyễn Duy Hòa. Trưởng xe 380 Nguyễn Đình Luông sau khi đi viện về thì
được cử đi học quản trị trưởng ở quân đoàn. Về cán bộ cũng có sự thay đổi, Đại
đội trưởng Bùi Quang Thận được đôn lên cán bộ tiểu đoàn. Thay anh làm đại đội
trưởng chính là đại đội phó Lê Văn Phượng.
Sang năm 1977, tình hình đại đội tiếp tục có những thay đổi lớn. Các pháo
thủ Ngô Sỹ Nguyên, xe 390 và Thái Bá Minh, xe 843 cũng được điều ra học sĩ quan
ngắn hạn ở Trường sĩ quan Tăng Thiết giáp. Số chiến sĩ cũ trong đại đội cũng lần
lượt ra quân hoặc chuyển ngành, có người quay về trường tiếp tục giấc mơ đại học
nhưng hầu hết lại về với ruộng đồng. Cho đến cuối năm 1977 thì Đại đội 4 đã gồm
hầu hết là người mới. Nói một cách nôm na, cái Đại đội đã từng tồn tại một cách
hiên ngang, ngạo nghễ ở Đường 72, đã từng đánh một mạch từ Huế, Đà Nẵng vào đến
tận Sài Gòn đã thật sự “tan đàn, xẻ nghé”. Không chỉ thế, nó còn dần dần bị rơi
vào quên lãng và chỉ được nhắc đến mỗi năm một lần vào dịp 30 tháng tư với tư
cách “ăn theo” người đại đội trưởng dũng cảm của mình.
Tuy nhiên, số cán bộ, chiến sĩ Đại đội 4 thuở ấy ở lại phục vụ quân đội
cũng không được lâu dài cho lắm. Chính trị viên Vũ Đăng Toàn, Đại đội phó kỹ
thuật Lê Văn Phượng, pháo hai Đỗ Cao Trường sau khi phát triển lên cán bộ cấp
tiểu đoàn thì nghỉ hưu vì có một số tiêu chuẩn chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng
quân đội trong thời kỳ mới. Pháo thủ Ngô Sỹ Nguyên, pháo thủ Thái Bá Minh, lái
xe Võ Đăng Khoa, pháo hai Nguyễn Duy Hòa… sau khi trở thành sĩ quan được mấy
năm người thì chuyển vùng, người thì chuyển ngành ra khỏi quân đội theo nguyện
vọng cá nhân. Trung đội trưởng Đậu Minh Tiến, Trưởng xe Nguyễn Đình Luông trưởng
thành đến cấp trung tá thì nghỉ hưu. Chỉ có Đại đội trưởng Bùi Quang Thận và
người viết cuốn sách này là phục vụ cho đến những năm 2000 mới về hưu. Đại đội
trưởng Bùi Quang Thận sau khi được đi đào tạo tại Học viện xe tăng Malinovsky
(Liên Xô cũ) thì quay về Lữ đoàn 203 công tác. Anh lần lượt trải qua các chức vụ
Lữ đoàn phó tham mưu trưởng, Lữ đoàn trưởng. Năm 1999 anh nghỉ hưu với quân hàm
đại tá khi giữ chức vụ Chủ nhiệm Tăng Thiết giáp quân đoàn 2. Còn người viết cuốn
sách này - một lái xe trong đại đội thì công tác tại Binh chủng Tăng Thiết giáp
đến năm 2008 mới nghỉ.
Số cán bộ, chiến sĩ chuyển ngành ra ngoài cũng chỉ có Trung đội phó Bùi Văn
Định và pháo thủ Lê Tiến Hùng là tương đối tiến bộ. Cả hai anh đều về học tiếp
Đại học Lâm nghiệp. Sau đó Bùi Văn Định trở thành Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Bắc Cạn.
Còn Lê Tiến Hùng trở thành Giám đốc xí nghiệp nguyên liệu của Nhà máy giấy Bãi
Bằng. Lái xe Lữ Văn Hỏa không theo nghề cơ khí nữa mà chuyển sang học Đại học
Kinh tế quốc dân song do sức khỏe kém nên cũng về hưu sớm. Số còn lại làm nhiều
nghề khác nhau song nhìn chung cuộc sống khá là vất vả, khó khăn.
Vâng! Đó là năm
1995 với sự kiện nữ nhà báo Pháp Françoise Demulder xuất hiện và bộ
phim truyền hình “Những người lính kíp xe 390” ra đời tạo nên một cơn
“sốt” trong xã hội. Bốn anh em trong
kíp xe tăng 390 đang im lặng trong bóng tối nay bỗng nổi như cồn.
Trong ánh hào quang rực rỡ của ánh sáng trường quay,
của những cuộc phỏng vấn, của các buổi lễ lạt mít tinh v.v… một vài người trong
số đó đã “nói quá say sưa” về chiến công của
mình. Cộng với sự vào cuộc của đội ngũ báo chí có phần thiên vị đã tạo nên một dư luận hết sức không hay là: “Dường
như đã có một sự tranh công đổ lỗi giữa những người trong cái Đại
đội 4 này mà cụ thể là xe 843 cướp công của 390, anh Bùi Quang Thận cướp công của những người khác”. Dư luận này ngày
càng lan rộng trên phạm vi toàn quốc. Thời gian đó, đi đến đâu cũng nghe người
ta kháo nhau về câu chuyện này.
Nói cho công bằng, đó là một sự hiểu lầm tai hại của
toàn xã hội đối với một sự thật lịch sử. Còn riêng với
Đại đội 4 thì cũng tai hại không kém và bị chia rẽ một cách
nghiêm trọng. Thật đau xót khi những người đồng đội đã từng vào sinh ra tử với
nhau suốt mấy năm trời giữa mưa bom, bão đạn, giữa cái sống cái chết… chỉ vì chút
danh tiếng hão huyền mà bây giờ lại
coi nhau như người dưng.
Bình tâm lại và
phân tích mọi vấn đề, dễ dàng nhận ra rằng sở
dĩ có tình trạng trên hoàn toàn là do cách tuyên truyền của các phương tiện thông tin đại chúng và các cơ quan tuyên huấn của chúng ta. Thực ra, diễn biến chiến đấu của trận hành tiến tiến công Dinh Độc Lập
ngày 30 tháng tư năm 1975 thì nói chung các cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn xe tăng
203 ngày ấy chẳng ai còn lạ gì. Xe nào đến trước, xe nào đến sau, anh Thận xuống
xe như thế nào, chuyện vào Dinh ra sao v.v… hầu hết mọi người tường tận cả. Sự
kiện đó đã được ghi lại một cách cụ thể trong cuốn “Một số trận chiến đấu của bộ
đội Tăng Thiết giáp - Tập 2” do Bộ Tư lệnh Thiết Giáp xuất bản năm 1978 nguyên
văn như sau: “11.30 ngày 30-4-1975 phân đội
đi đầu lữ đoàn 203 tiến đến trước “dinh Độc Lập”, quân địch không còn tinh thần
chống cự. Tăng 390 húc đổ cổng sắt, đại đội trưởng Bùi Quang Thận xông vào dinh
nhanh chóng hạ cờ ngụy, treo lá cờ giải phóng lên vị trí cao nhất”- tr. 135.
Tuy nhiên, chi tiết này không được khai thác và công bố rộng rãi đã dẫn đến những
hệ lụy vô cùng đáng tiếc về sau.
Sở dĩ có tình trạng ấy theo một số nguồn đáng tin cậy là
sau 30 tháng tư năm 1975, có một
chỉ thị miệng từ “trên xuống” là không tuyên
truyền về xe 390. Lý do chỉ vì nó là một chiếc T59 do Trung Quốc chế tạo mà quan hệ giữa hai nước lúc
đó đang nhanh chóng xấu đi. Thế là người ta chỉ quan tâm đến việc đưa tin ca ngợi
hành động cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập của đại đội
trưởng Bùi Quang Thận. Còn một lẽ nữa đó là hồi sau chiến
thắng ai cũng coi cái chuyện húc cổng Dinh là một cái gì đó hết
sức bình thường. Không xe 390 húc thì sẽ có xe
khác, cả một lữ đoàn xe tăng mấy chục chiếc ở ngay sau đó
mà. Còn cái cánh cổng Dinh thì có vững chãi gì đâu, với cái xe tăng 36 tấn thì nó chỉ cần ẩy khẽ một cái
là đổ thôi. Vì vậy, khi thấy người ta chỉ ca ngợi chuyện cắm cờ thì chẳng ai, kể
cả kíp xe 390 có thắc mắc gì.
Thế rồi, sự kiện
1995 ập đến. Báo chí lại một phen ào ạt xung trận nhưng đợt này là ca ngợi xe
390 đã húc đổ cánh cổng Dinh như “húc đổ thành lũy cuối cùng của chế độ thực
dân kiểu mới”. Lại thêm bộ phim truyền hình của đạo diễn Phạm Việt Tùng với những hình ảnh và lời bình có phần
“thậm xưng”, nói về hoàn cảnh thực tại của mấy thành viên kíp 390 đã làm dấy
lên câu hỏi cho toàn xã hội: “Tại sao những người làm nên chiến công này lại bị
đối xử tàn tệ như vậy. Tại sao không ca ngợi họ mà chỉ ca ngợi kíp xe 843…?”.
Các anh em nhà ta vốn chân chất, thật thà nên bây giờ được lên đài, lên báo là
sướng và tất nhiên cánh nhà báo và MC họ lái đi đâu là
cứ thế đi theo. Thậm chí có lúc các anh cũng tin rằng đồng đội của mình đã
tranh công của họ. Đó chính là một bi kịch đối với
Đại đội 4 xe tăng và làm cho hầu hết anh em trong đơn vị hết sức buồn lòng.
Cũng may, dần dần
các anh em hai kíp xe cũng hiểu ra thực chất vấn đề và quan hệ giữa
Đại đội trưởng Bùi Quang Thận với Chính trị viên Vũ Đăng Toàn, giữa kíp xe 843 với 390 đã cải thiện đáng kể. Kể từ đó các anh trở nên thân thiết như xưa - như
cái thời chung lung đấu cật ở chiến trường.
Khi đã đoàn kết
với nhau, các anh bàn với một số anh em còn đang công tác làm thế nào để Đại đội 4 được
tuyên dương xứng
đáng với thành tích và công trạng của nó.
Vừa để lấy lại sự công bằng, vừa là vinh danh các liệt sỹ của đại đội đã anh dũng hy
sinh, đồng thời là một cơ hội để kéo mọi người
lại với nhau. Nói cho công bằng, với những thành tích của mình Đại đội 4 hoàn toàn xứng đáng với điều đó. Ngay
từ năm 1975 cũng đã có ý kiến đề nghị rồi nhưng không biết vì lý do gì mà không
được xét. Người thì bảo do các thủ trưởng cấp trên quan niệm: “Lữ đoàn đã anh
hùng thì mọi tập thể dưới đó và mọi cá nhân cũng anh hùng rồi, còn đề nghị làm gì”. Người thì
bảo do Đại
đội 4 làm cháy kho đạn cuối năm 74… Rất may là ý định
đó được Ban chỉ huy Lữ đoàn xe tăng 203
hiện tại hoàn
toàn ủng hộ.
Và
rồi cái gì đến sẽ phải đến. Tháng 10 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định
công nhận 2 chiếc xe số 843 và 390 của Đại đội 4 là Bảo vật quốc gia. Ngày 26 tháng tư năm 2013,
Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã ký Quyết định số 804/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu
Anh hùng LLVTND
cho Đại đội 4 xe tăng thuộc Lữ
đoàn 203. Tiếp đó, ngày 30 tháng mười năm
2013, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận cũng được truy tặng danh hiệu Anh hùng
LLVTND. Tiếc một điều là người đại đội trưởng dũng cảm đó đã không được tận hưởng
niềm vinh dự đó vì anh đã ra đi quá sớm.
Ngày đón danh hiệu Anh hùng của Đại
đội 4, gần 30 anh em có dịp được đoàn tụ bên nhau. Có những người gần 40 năm
nay mới được gặp nhau. Mừng mừng, tủi tủi. Tất cả đã già đi cùng năm tháng, có
người trở nên nổi tiếng và rất nhiều người dường như đã chìm vào quên lãng.
Nhưng những câu chuyện về một quá vãng vô cùng gian khổ, ác liệt nhưng cũng rất
mực lãng mạn, hào hùng vẫn nổ như ngô rang. Và người viết cuốn sách này chỉ xin
ước một điều - xin thời gian
trở lại cho cả Đại đội
lại được bên nhau một lần vục khuôn mặt lấm lem vào bồn nước giữa sân Dinh Thống
Nhất, rồi tới bên bờ sông Sài Gòn lộng gió để uống rượu, để bắn pháo
hoa, để cùng ôm nhau cười và khóc.
Sài
Gòn 30.4.1975
Hà Nội tháng 12.2006.
Bổ sung: Tháng 12.2014.
Đại tá Nguyễn
Khắc Nguyệt
Nguyên
chiến sĩ lái tăng số 380, Đại đội 4, Lữ đoàn 203
![]() |
| Hai chiếc xe 843 và 390 húc đổ cổng dinh ĐL (Franxoa DeMunde) |
| Đại đội XT4 ngày đón nhận danh hiệu AHLLVTND (6.2013) |
Thứ Ba, 3 tháng 10, 2017
BÚT KÝ LÍNH TĂNG- HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP- 46
Đúng lúc ấy xe
390 đã đến trước cổng dinh, Tập hơi giảm chân dầu và kéo cần lái bên phải về vị
trí “hành tinh”, chiếc xe cua một vòng 90 độ nằm đối diện với cổng chính. Tập
tăng chân dầu lao thẳng vào cổng, một cánh cổng đổ sập xuống, cánh kia bung bản
lề đổ nghiêng, theo đà tiến xe 390 lao hẳn vào trong sân dinh.
Thận đã tháo được
lá cờ, anh nhảy xuống chạy băng qua thảm cỏ bên cạnh xe 390 về phía cửa chính,
thấp thoáng một vài bóng người cầm máy ảnh phía trước.
Từ trong xe
Toàn đã thấy Thận cầm lá cờ chạy bộ ngay bên cạnh xe mình. Nghĩ thầm trong bụng:
“Nguy hiểm quá! Đã biết lực lượng địch trong Dinh thế nào mà anh ấy lại xuống
xe thế kia” Toàn nhắc Tập:
- Giảm tốc độ!
Chạy từ từ thôi.
Hỏa đã đưa được
cần số về số “không” và ấn nút khởi động, động cơ nổ được ngay. Cậu lùi lại một
chút chỉnh hướng rồi lao vào sân dinh sau xe 390 vài mét. Hỏa tăng ga cho xe chạy
song song với xe 390, hai chiếc xe như hai người lính cận vệ hai bên cho đại đội
trưởng của mình.
Cả hai xe lao đến
sát tiền sảnh Dinh thì dừng lại. Đại đội trưởng Thận vẫn cầm lá cờ chạy lên bậc
tam cấp và khuất dạng sau cánh cửa. Chính trị viên Vũ Đăng Toàn ra lệnh:
- Anh Phượng
lên ôm 12 ly 7, cả xe sẵn sàng bảo vệ cho anh Thận và tôi.
Ra lệnh xong
Toàn bật nắp cửa trưởng xe cắp khẩu AK nhảy xuống chạy theo Thận vào trong
Dinh. Đại đội phó Lê Phượng đội cửa pháo hai lên ôm lấy khẩu 12 ly 7. Bên xe
843 pháo hai Nguyễn Văn Kỷ cũng đã đội cửa lên. Cả hai nhìn như dán vào Dinh,
tay lăm lăm bóp cò. Hỏa và Tập vẫn ngồi nguyên vị trí, họ vẫn để ở số hai và dừng
xe bằng cần lái, như thế này nếu cần chỉ đẩy hai cần lái về phía trước là xe sẽ
chồm lên ngay. Trên ghế pháo thủ Minh và Nguyên cũng đang dán mắt vào kính mặt
bằng, hai nòng pháo vẫn chĩa thẳng vào dinh, hai ngón cái đặt sẵn vào nút cò điện.
Đ/c Bùi Quang
Thận xông vào dinh cắm cờ
Chạy đằng sau
xe 843 vài trăm mét Trang thấy rất rõ tình hình diễn ra phía trước. Khi nhìn thấy
chiếc xe 843 khựng lại Trang đã thót tim vì lo cho Hỏa, không hiểu đã có chuyện
gì xảy ra, cậu bảo Thọ:
- Chú ý quan
sát nhé! Thấy thằng nào thật nguy hiểm thì mới bắn!
Nói rồi Trang
nhấn ga tăng tốc độ, chiếc xe lao phăm phăm trên con đường rộng thênh thang
không một bóng người. Còn khoảng vài trăm mét Trang chợt nhìn thấy chiếc 390 từ
bên phải chạy sang rồi cua một vòng “hành tinh” cực kỳ điêu luyện vào ngay
chính diện cổng chính. Phía sau xe 390 là mấy xe của đại đội Bốn và đại đội Ba,
có cả một cái K63-85 lội nước không hiểu sao cũng đã đến được đây. Trang thở
phào nhẹ nhõm.
Đại đội trưởng Bùi QuangThận trả lời
phóng viên sau khi cắm cờ
Khi hai chiếc
xe 843 và 390 đã tiến sát tiền sảnh, đội hình xe tăng tiếp theo tản ra thành
hình vòng cung trên thảm cỏ hình thành thế bao vây ôm chặt lấy Dinh. Những nòng
pháo vẫn gườm gườm chĩa thẳng vào Dinh sẵn sàng nhả đạn. Hàng chục chiếc động
cơ 550 mã lực vẫn gầm rú như đàn voi chiến đang còn say mùi khói súng. Vài giây
sau không thấy động tĩnh gì tiếng động cơ nhỏ dần rồi tắt hẳn, những nắp cửa bật
tung ra. Từ trong xe những thân hình nhem nhuốc nhảy ra ôm lấy nhau hò reo mừng
rỡ, hàng chục chiếc mũ công tác tung lên. Mấy tên pháo hai hứng chí quay 12 ly
7 ngỏng lên trời kéo cò luôn cả hòm 50 viên đạn.
Phía sau các ô
tô, xe bọc thép chở bộ binh cũng đang dồn đến ngoài cổng. Trên xe bộ binh cũng
giương súng lên trời xả hàng băng đạn. Cánh nhà báo lúc nãy nấp ở đâu không biết
giờ kéo ra khá đông đang lăng xăng ghi hình, chụp ảnh. Bọn lính cảnh vệ và nhân
viên trong Dinh đã bị dồn lại ngồi thành một hàng ở phía bên phải sân Dinh một
cách rất trật tự…
Lao chiếc 380
“sứt môi” vào sát bồn nước giữa sân Dinh, Trang dừng lại. Cậu vừa mở cửa lái xe
đã thấy Thọ nhảy bổ xuống, hai anh em ôm lấy nhau nhảy tưng tưng, miệng hò reo
như trẻ con trong ngày hội. Trên xe 381 trung đội trưởng Trị cắp khẩu AK vào
nách đứng trên đỉnh tháp pháo hô lớn:
- Chú ý nghe
đây! Các lái xe và pháo hai không được rời xe! Còn lại theo tôi vào Dinh!
Thọ bỏ Trang ra
lao bổ về phía Dinh. Trang và cánh lái xe tiu nghỉu đứng nhìn đồng đội mình
đang lao vào Dinh như một dòng thác. Một tay nhà báo tay lăm lăm cái máy ảnh
đang hướng về phía Trang. Đến lúc này Trang mới chú ý đến mình. Bộ quần áo mặc
từ hôm 27 đến giờ chưa thay lấm lem bụi đất đỏ rừng cao su và dầu mỡ, nhiều chỗ
còn dính máu pháo hai Duyệt. Tai hại hơn, không biết quạc vào đâu mà ống quần
bên trái của cậu rách một đường từ trên đầu gối xuống đến tận gấu quần. Bối rối
quá Trang quay đi và chui tọt vào ghế lái xe.
Chính lúc ngồi
trong ghế lái xe nhìn ra xung quanh Trang mới cảm nhận thật đầy đủ cái sự kiện
vĩ đại mà cậu và các đồng đội của cậu đã góp phần làm nên và tận mắt được chứng
kiến, Trang hiểu rằng từ giờ phút này chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt, không
còn đổ máu, không còn chết chóc… Cúi nhìn đồng hồ hành trình Trang thấy con số
3.100 hiện trên công tơ mét, cậu chợt liên tưởng đến con đường mà bao thế hệ đã
đi qua để hôm nay đến được cái đích cuối cùng này. Một ý nghĩ thoáng qua trong óc,
Trang vội vàng móc cuốn sổ tay “bất ly thân” đã rách te tua ra ghi vội:
“Khi chiếc xe tăng dừng
trước Dinh Độc Lập
Ta ngỡ ngàng - đây thật
hay mơ?
Cây số cuối cùng - cuộc
trường chinh dằng dặc
Đến rồi chăng? Hai mắt bỗng
dưng nhòa.”
Sài Gòn - trưa 30 tháng tư năm 1975
Hai mắt Trang
nhòa đi thật, cậu biết rằng để hôm nay các cậu đến được cái đích này, đến “cây
số cuối cùng” này đã có biết bao người phải đổ máu, hy sinh. Chỉ riêng “xê Bốn”
này thôi mười đồng đội của cậu đã vĩnh viễn gửi lại tuổi thanh xuân trên những
chặng đường chiến đấu. Mới chỉ hôm kia thôi Nguyễn Kim Duyệt, pháo hai chính
cái xe 380 này cũng đã ngã xuống mà hành trang để lại chỉ là một ba lô sách.
Trang gập cuốn sổ tay, tỳ trán vào cửa lái xe và nhắm mắt lại để kìm cơn xúc động.
Khi đã tĩnh trí
Trang ngẩng lên nhìn, trên nóc Dinh Độc Lập đại đội trưởng Thận của cậu đang
kéo lá cờ giải phóng lên cột cờ. Lá cờ xanh đỏ giữa có ngôi sao vàng nhuốm màu
khói súng và lỗ chỗ vết đạn gặp gió tung bay phấp phới trên bầu trời tháng tư
Sài Gòn xanh ngắt.
BÚT KÝ LÍNH TĂNG- HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP- 45
Đến cầu Rạch
Chiếc, một chiếc M48 điên cuồng bắn chặn nhưng nó nhanh chóng bị bắn cháy. Qua
cầu một đoạn đã thấy nhà cửa dầy hơn, đã nhìn thấy lò cao của nhà máy xi măng
Hà Tiên và những tấm quảng cáo lớn như những mái nhà nằm rải rác. Sài Gòn đã ở
ngay trước mắt.
Tiểu đoàn Một vẫn
tiến nhưng tốc độ chậm hơn, xa xa đã nhìn thấy một cây cầu cong cong nằm vắt
mình qua dòng sông rộng, ai cũng hồi hộp vì biết rằng đó là cầu Sài Gòn. Bên
kia cầu đã là nội đô, sào huyệt cuối cùng của địch.
Đã tiến gần hơn
đến cầu, ngay gần đầu cầu là những chướng ngại vật được xếp bằng thùng phuy đổ
đất đứng sừng sững. Bất chợt những chiếc xe tăng nấp sau chướng ngại vật phát hỏa.
Từ phía bên kia cầu cũng xuất hiện mấy chiếc xe tăng lợi dụng mặt cầu cong nhô
lên bắn dữ dội vào quân ta. Trên đầu hai chiếc máy bay quần lượn định nhào xuống
cắt bom. Pháo tầm xa cũng bắn liên tục vào đội hình.
Ngay loạt đạn đầu
của pháo tăng địch hai xe tăng của đại đội Một đã bị cháy, chiếc xe thiết giáp
của phân đội trinh sát cũng trúng một quả pháo. Tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ và
một số chiến sĩ hy sinh, đội hình cả tiểu đoàn bị ùn lại. Các xe nhanh chóng tản
ra hai bên đường lợi dụng địa hình địa vật để tránh pháo và tiêu diệt xe tăng địch.
Xe 381 lùi hẳn xuống một chỗ trũng ven đường.
Nhìn qua kính
trưởng xe Thận thấy xe tăng địch chỉ nhô một tý tháp pháo lên sau các chướng ngại
vật và mặt cầu nên rất khó bắn, để diệt chúng cần phải tập trung hỏa lực của
vài xe. Vì vậy, anh lên đài gọi các xe trong đại đội:
- 43 gọi 40! Theo lệnh tôi tập trung hỏa lực
diệt từng xe tăng địch! Bắn chiếc gần nhất, bắt đầu!- Anh bóp báo gọi bảo Minh-
Bắn cái gần nhất ấy!
Bên các xe khác cũng đã nghe được lệnh, cả mấy
xe cùng bắn vào chiếc tăng gần nhất. Sau hai loạt đạn thì chiếc M48 bốc cháy.
Thận lập tức lên đài:
- 43 gọi 40! Bắn
cái thứ hai!
Lại một loạt đạn
tập trung vào cái M48 thứ hai nấp sau chướng ngại vật bên trái đường, chiếc xe
bốc cháy ngay lập tức. Bên ta thêm hai xe nữa của đại đội Một bị trúng đạn bởi
pháo tăng trên mặt cầu. Thận lại bóp phát:
- 43 gọi 40! Ngắm
sẵn vào mặt cầu, đợi nó nhô lên thì bắn ngay!
Quả nhiên cách
này có tác dụng. Chiếc M48 vừa nhô tháp pháo lên đã bị mấy quả đạn xuyên lao tới,
nó không bốc cháy nhưng lùi xuống mất dạng. Hai chiếc máy bay sau nhiều vòng quần
lượn định lao xuống nhưng bị cao xạ của ta bắn hất lên cũng đã bỏ đi, pháo địch
bắn tới cũng thưa hơn. Đạn trên hai chiếc M48 cháy bắt đầu nổ dữ dội, khói lửa
mù mịt phía đầu cầu.
Lợi dụng lúc hỏa
lực địch yếu đi đội hình đi đầu đã nhích sát chân cầu, Trang cũng đã cho xe len
lách lên ngay phía sau đại đội mình. Dưới sông hai cái tàu chiến chạy về phía hạ
lưu, chúng quay súng lên bắn như vãi trấu về phía bờ Bắc. Thận lên đài gọi:
- 43 gọi 40!
Quay pháo ra sông diệt tàu chiến!
Mấy khẩu pháo
cùng gầm lên. Những cột nước bốc lên xung quanh hai con tàu, chúng hoảng sợ dạt
vội vào bờ. Những bóng áo lính bỏ tàu chạy lên nhốn nháo.
Trong tai nghe
của Thận bỗng thấy vang lên tiếng lữ phó Công:
- 01 gọi dê Một!
Lập tức cho xê Ba xung phong vượt cầu, xê Bốn sẵn sàng yểm hộ!
Mệnh lệnh được
nhắc đi nhắc lại hai lần nhưng không có ai trả lời, chắc do tiểu đoàn trưởng Nhỡ
đã hy sinh chưa có ai thay thế. Tuy nhiên các đại đội trưởng đều đã nghe được.
Thận vội lên đài:
- 43 gọi 40! Sẵn
sàng xung phong vượt cầu!
Đã thấy một xe
của “xê Ba” lao lên mặt đường, Thận hô:
- 43 gọi 40!
Xung phong vượt cầu!- Nhấn nút nội bộ anh giục Hỏa- Tiến!
Chiếc 843 chồm lên,
ngay sau đó là xe 390 và vài xe khác trong tiểu đoàn.
Quân địch hầu
như đã bị tê liệt nên không thấy đạn từ các ổ đề kháng đầu cầu bắn ra nữa, từng
chiếc xe lách qua chướng ngại vật để lên cầu. Khói lửa từ hai chiếc xe tăng
cháy vẫn bốc ra mù mịt, thỉnh thoảng một ngọn lửa lại bùng lên cao do đạn nổ. Cầu
Sài Gòn đã hiện ra ngay trước mắt, hơn chục chiếc xe tăng nối đuôi nhau vượt
qua cầu, cái 380 sứt sẹo lóc cóc chạy cuối đội hình.
Lên đến đỉnh cầu
Sài Gòn tầm mắt được mở rộng ra hơn. Từ độ cao này đã nhìn rõ những tòa cao ốc
trong trung tâm thành phố, những dãy nhà lúp xúp ngay dưới chân cầu và con đường
trải rộng trước mắt không một bóng người. Đoàn xe tăng rầm rập đổ dốc lao vào
trung tâm. Các lái xe vừa dán mắt vào kính lái nhìn đường, nhìn địch và tìm điểm
chuẩn là cầu Thị Nghè.
Đúng lúc Hỏa
nhìn thấy cầu Thị Nghè cũng là lúc hai ánh chớp nháng lên phía bên kia cầu. Hai
chiếc xe M41 phục kích bên kia cầu đang bắn vào đội hình ta, chiếc xe đi đầu bị
trúng đạn nhưng cũng kịp bắn diệt một cái. Hỏa vội dạt sang một bên đường, Thận
hét:
- Minh! Xe tăng
phía trước!
Minh đã nhìn thấy cái M41 đang quay nòng pháo
về phía xe mình, biết Kỷ đã lắp sẵn một viên đạn xuyên trong nòng pháo nên vừa
đưa được mục tiêu vào đầu ngắm cậu nhanh tay bóp cò luôn. Viên đạn xuyên lao
vút đi, chiếc M41 bốc cháy đùng đùng. Chiếc xe 866 dẫn đầu đã bị thương, lửa
cháy lem lém ở thùng dầu ngoài, trên xe anh em đang kéo trưởng xe ra đưa xuống
đất để băng bó. Té ra chẳng phải ai xa lạ. Đó chính là Lê Tiến Hùng, một pháo
thủ cũ của “xê bốn” này. Thận lệnh cho Hỏa tăng tốc độ dạt sang bên trái đường
để vượt qua, bám sát theo xe anh là xe 390 và mấy xe khác trong đại đội.
Đường phố vẫn vắng
tanh vắng ngắt, những ai bất ngờ có việc ra đường đều nhanh chân dạt vào trong
các hẻm hai bên đường. Hỏa vẫn đang lẩm nhẩm trong đầu: “chạy thẳng đến ngã tư
thứ bảy rẽ trái” thì nghe tiếng Thận trong máy nói:
- Hỏa! Rẽ trái!
Không kịp hỏi lại
Hỏa kéo mạnh cần lái bên trái, chiếc xe rẽ ngoặt vào một đường phố khác. Hơi ngần
ngừ một chút rồi cậu nhấn ga, bụng bảo dạ: “đường phố bao giờ cũng như bàn cờ,
cứ đi đường này rồi rẽ phải thế nào cũng đến”.
Từ phía sau Tập
đã nhìn thấy xe 843 rẽ trái, cậu lẩm bẩm: “thằng cha Hỏa này lạc đường rồi, phải
đi thẳng mới đúng chứ” rồi nhấn ga cho xe chạy thẳng. Hai xe M113 bất ngờ xuất
hiện, Nguyên chẳng đợi khẩu lệnh trưởng xe bắn luôn một phát. Mấy xe ở phía sau
cũng bắn, hai chiếc M113 bốc cháy như hai bó đuốc.
Chạy đằng sau
Trang thấy rõ ràng đoàn xe tăng phía trước đã chia thành hai ngả, một vài xe rẽ
trái theo 843, hầu hết lại chạy thẳng theo xe 390. Cậu rất phân vân không hiểu
ra làm sao nhưng rồi đi đến quyết định rất nhanh: “cứ đi theo xe đại trưởng”
nên đến cái ngã tư ấy cậu cũng kéo cần lái rẽ về bên trái.
Đường phố vẫn
không một bóng người, một vài cái xe Jeep, xe mô tô vứt chỏng chơ trên đường.
Thận trở nên bối rối vì cứ nghĩ đơn giản rằng vào thành phố thấy cái nhà nào
cao, to mà treo cờ ba sọc thì đó chính là dinh Độc Lập. Nhưng vào đến đây anh mới
thấy thành phố lớn quá, nhà cao to treo cờ ba sọc cũng nhiều quá, vì vậy anh
quyết định sẽ phải tìm người để hỏi.
Đã chạy hết một
dãy phố nhưng đường phố thì vắng tanh, nhà nào nhà ấy đóng cửa im ỉm, chỉ thấy
giấy tờ bay ngập đường chẳng có “ma” nào để hỏi đường Thận quyết định cho xe dừng
lại ở một chỗ rất nhiều cây xanh. Chiếc xe vừa nép vào bóng rặng cây ven đường
dừng lại thì một phụ nữ trẻ phóng chiếc xe máy đi tới. Mừng như bắt được vàng
Thận vẫy cô ta đứng lại. Không biết vì sợ hay vì ngại mà cô ta vẫn chạy, cáu tiết
và cũng chẳng còn cách nào hơn Thận nâng khẩu AK vẫn để ngay cạnh mình lên bắn
chỉ thiên một loạt. Nghe tiếng súng người phụ nữ vội dừng xe. Thận vẫy cô ta đến
gần. Thì ra đó là một phụ nữ còn khá trẻ mới chừng ba mươi tuổi, gương mặt khá
xinh. Cô ta bước tới gần chiếc xe tăng mà hai chân cứ ríu vào nhau chực sụp xuống,
mặt thì cắt không còn hột máu. Nhìn bộ dạng ấy Thận biết cô ta đang rất sợ nên
hỏi rất mềm mỏng:
- Cô gái! Chúng
tôi là quân giải phóng, cô làm ơn chỉ giúp đường nào đến dinh Độc Lập?
-
Tôi…không…rõ…rõ…!- Cô gái lập bập nói chẳng ra hơi.
Thận bỏ hẳn mũ
công tác ra hỏi lại:
- Dinh Độc Lập
là chỗ tổng thống Nguyễn Văn Thiệu làm việc ấy mà!
- Tôi…
không…không…biết!- Cô ta vẫn lặp lại.
- Cô cứ bình
tĩnh nghĩ đi! Chúng tôi là quân giải phóng vào đây chỉ đánh Mỹ, ngụy chứ không
làm gì hại tới đồng bào. Nếu cô không giúp đỡ chúng tôi nghĩa là cô ủng hộ Mỹ
ngụy nên chúng tôi sẽ bắt cô.
- Đừng…đừng… bắt
tôi! Tôi nghĩ ra rồi! Đó gọi là Dinh Tổng thống phải không? Thế thì nó ở ngay
trước mặt các ông kia kìa, ngôi nhà màu trắng ấy!- Người phụ nữ đưa tay chỉ về
một ngôi nhà màu trắng thấp thoáng phía xa.
Thận nheo mắt
nhìn, quả thật đằng sau những tán lá cây xanh mướt có một ngôi nhà khá lớn màu
trắng đứng sừng sững, anh gặng lại một lần nữa:
- Có đúng thế
không?
- Đúng vậy!-
Người phụ nữ đã bình tĩnh hơn nên khẳng định một cách chắc chắn.
- Thế thì cảm
ơn cô! Cô đi được rồi!
Thận ngoảnh lại
phía sau, cách anh vài trăm mét có một vài xe đang tiến đến. Anh chui vào xe và
nói ngắn gọn với cả xe:
- Dinh Độc Lập
đang ở ngay phía trước chúng ta, hiện giờ không biết lực lượng địch và khả năng
chống cự của chúng thế nào nên cứ phải liều thôi. Bây giờ tất cả các loại vũ
khí đều phải để ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu, Hỏa dùng tốc độ cao lao vào. Tất
cả rõ cả chưa?
- Rõ!- Hỏa,
Minh, Kỷ cùng đáp.
- Tiến!
Hỏa khởi động động
cơ và nhanh chóng cho xe chạy, khi đã đủ đà cậu tống lên số ba và tăng chân dầu.
Chiếc xe lao ầm ầm trên đường như con voi sổng chuồng. Đã nhìn rõ ngôi nhà bốn
tầng mầu trắng nằm chính diện với con đường, trên nóc lá cờ ba sọc phất phơ
bay. Thận khẳng định: “đúng là Dinh Độc Lập rồi”.
Chẳng biết quân
địch trong đó thế nào Thận nghĩ: “phải làm cho chúng nó sợ cái đã” và quyết định:
- Minh! Đánh
pháo cao bắn lên trời một phát!
Pháo thủ Minh
hơi ngỡ ngàng nhưng cũng răm rắp làm theo, cậu ta quay tầm cho pháo lên cao hết
cỡ rồi bóp cò. Không có tiếng nổ. Minh giật vội cần lên cò lại và bóp cò tiếp một
lần nữa nhưng đạn vẫn không nổ. Hơi cuống nhưng Minh vẫn nghĩ ra, nó hét:
- Kỷ! Lắp viên
đạn khác!
Kỷ đang loay
hoay tháo viên đạn hỏng ra thì xe đã tới ngay gần cổng Dinh, tại đây quân địch
đã bày rất nhiều những hàng rào sắt làm chướng ngại vật. Thận hô:
- Cứ lao thẳng
vào!
Đang chạy với tốc
độ cao lại phải lượn tránh mấy cái chướng ngại vật làm xe hơi lệch sang trái so
với cổng chính nên Hỏa quyết định sẽ húc vào cổng bên trái. Cậu giật cần lái
trái cho xe nhao hẳn sang một bên rồi giật cần lái bên phải lấy lại hướng cho
chính diện. Chưa kịp lấy lại hướng thật chính xác thì chiếc xe đã húc vào cổng
Dinh, băng xích bên phải thúc vào làm một cánh cổng đổ nghiêng xuống, cánh cổng
bên kia cũng mở ra. Băng xích bên trái đâm vào trụ cổng, tiếng động cơ gằn lên
rồi lịm hẳn.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








