Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2017

TRUYỀN THỐNG "ĐÃ RA QUÂN LÀ ĐÁNH THẮNG" CỦA BINH CHỦNG TTG RA ĐỜI TỪ ĐÂU?

Đài kỷ niệm chiến thắng Làng Vây

Truyền thống, hiểu một cách ngắn gọn là những giá trị đặc sắc, nổi bật của một cộng đồng đã được truyền từ những thế hệ đi trước sang các thế hệ hiện tại và tương lai. Với ý nghĩa như vậy, truyền thống rất có giá trị trong việc giáo dục thế hệ trẻ trong các cộng đồng đó. Và cũng vì vậy, tất cả các cộng đồng đều rất chú ý đến việc tạo lập và truyền bá truyền thống của cộng đồng mình.
Tuy nhiên, như tấm huy chương nào cũng có hai mặt, các giá trị đặc sắc, nổi bật của một cộng đồng nào đó cũng có thể có cả mặt tốt và mặt xấu. Nhưng dù tốt hay xấu nó đều có tác dụng giáo dục: biết xấu hổ vì cái xấu để tránh xa cái xấu và ngược lại biết trân trọng, tự hào những cái tốt đẹp để vươn tới cái tốt đẹp đó.
Thông thường, truyền thống của mỗi cộng đồng thường được tổng kết một cách ngắn gọn, dễ hiểu, dễ tiếp cận nhất các giá trị đặc sắc, nổi bật, riêng có của cộng đồng đó. Có trường hợp do bản thân cộng đồng đó đúc kết lên. Có trường hợp do dân gian tổng kết và lưu truyền. Cũng có những trường hợp do cấp trên, người nổi tiếng khen tặng...
Chẳng hạn, đối với phụ nữ Việt Nam có truyền thống "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" do Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng. Còn vùng quê Văn Lang, Hạ Hòa, Phú Thọ lại có truyền thống được lưu truyền trong dân gian: "Văn Lang cả làng nói khoác"...
Truyền thống Đã ra quân là đánh thắng của bộ đội Tăng Thiết giáp VN xuất phát từ đâu? - Ảnh 1.
Phương tiện kỹ thuật và vũ khí của Binh chủng Tăng - thiết giáp.
Truyền thống các binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam
Đối với các đơn vị quân đội, do đặc điểm nhiệm vụ là loại lao động đặc biệt, đòi hỏi quân nhân sẵn sàng hy sinh tất cả những thứ cao quý nhất cuộc đời mình để hoàn thành nhiệm vụ, là loại lao động đặc thù hết sức gian khổ, khó khăn, ác liệt... thì việc giáo dục tinh thần trách nhiệm, lòng tự hào của một quân nhân, sẵn sàng xả thân vì đất nước... là hết sức cần thiết.
Để làm được điều đó thì xây dựng truyền thống và giáo dục truyền thống là một giải pháp hết sức hiệu quả.
Đặc biệt, các binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam có những nét đặc thù rất khác nhau: trang bị vũ khí khác nhau, nhiệm vụ khác nhau, cách đánh khác nhau... nên cũng có truyền thống rất khác nhau. Đó thường là những nét truyền thống được đúc kết từ lịch sử xây dựng và chiến đấu lâu dài của binh chủng đó.
Chỉ là những tổng kết rất ngắn gọn, dễ nhớ song đã đặc tả được đặc điểm và những những truyền thống tốt đẹp mà bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ của binh chủng đó đã dựng xây nên bằng mồ hôi, xương máu và trí tuệ của mình.
Lần giở các trang lịch sử của từng binh chủng, chúng ta có thể thấy rất rõ điều đó.
Đối với binh chủng Pháo Binh, trải qua mấy chục năm xây dựng, trưởng thành và chiến đấu, từ khởi đầu là các loại pháo cối mang vác cho đến những trang bị hiện nay đã xây dựng lên truyền thống: "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng".
Truyền thống Đã ra quân là đánh thắng của bộ đội Tăng Thiết giáp VN xuất phát từ đâu? - Ảnh 2.
Binh chủng Tăng thiết giáp ngày càng lớn mạnh.
Với nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc cho quân đội, các thế hệ cán bộ chiến sĩ binh chủng Thông Tin liên lạc đã xây dựng lên truyền thống: "Kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn".
Là binh chủng có nhiệm vụ bảo đảm công binh, công trình phục vụ chiến đấu, trong đó nhiệm vụ chủ yếu là bảo đảm cơ động, binh chủng Công Binh có truyền thống: "Mở đường thắng lợi".
Với binh chủng Đặc Công- một binh chủng khá non trẻ nhưng có lối đánh hiểm hóc, tinh nhuệ, dùng ít đánh nhiều... đã xây dựng lên truyền thống: "Đặc biệt tinh nhuệ; Anh dũng tuyệt vời; Mưu trí, táo bạo; Đánh hiểm thắng lớn".
Còn binh chủng Hóa học với nhiệm vụ phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, đảm bảo an toàn cho nhân dân và các lực lượng khác trước các loại vũ khí hủy diệt lớn thì có truyền thống là: "Phòng chống tốt, chiến đấu giỏi".v.v...
Truyền thống Đã ra quân là đánh thắng của bộ đội Tăng Thiết giáp VN xuất phát từ đâu? - Ảnh 3.
Xe tăng PT-76 số hiệu 268 tại Đài tưởng niệm Chiến thắng Làng Vây.
"Đã ra quân là chiến thắng"- Truyền thống của binh chủng Tăng Thiết Giáp
Thành lập ngày 5.10.1959 nhưng phải đến gần 10 năm sau bộ đội Tăng Thiết Giáp mới chính thức tham chiến tại chiến trường miền Nam trong trận đánh cứ điểm Làng Vây đêm 06 rạng ngày 07.02.1968.
Trận đánh đã giành thắng lợi với hiệu suất rất cao, chứng tỏ chúng ta hoàn toàn có khả năng sử dụng một cách hiệu quả tăng thiết giáp ở chiến trường miền Nam và được Bộ Thống soái tối cao rất chú ý.
Chính vì vậy, ngay buổi trưa ngày 07.02.1968, chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi nhận tin chiến thắng, Bộ Tổng Tư lệnh đã có điện khen ngợi gửi Bộ Tư lệnh Thiết giáp. Nguyên văn bức điện như sau:
"Bộ Tổng tư lệnh gửi Bộ Tư lệnh Thiết giáp!
Các đồng chí thân mến!
Trong trận tiến công Làng Vây các đồng chí đã nêu cao tinh thần chiến đấu mưu trí, sáng tạo, vượt mọi khó khăn gian khổ, hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bạn xung phong thọc sâu chia cắt địch, tiêu diệt hoàn toàn vị trí then chốt của giặc Mỹ và tay sai trên tuyến phòng ngự đường số Chín, bắt tù binh, thu vũ khí, làm cho kẻ thù khiếp sợ.
Với chiến công vang dội đó các đồng chí đã góp phần xứng đáng cùng quân và dân miền Nam anh hùng, liên tục tiến công và đồng loạt nổi dậy trong cao trào cách mạng mới, giành thắng lợi to lớn và toàn diện trên khắp các chiến trường.
Bộ Tổng tư lệnh nhiệt liệt biểu dương các đồng chí đã đánh thắng trận đầu oanh liệt, góp phần xây dựng truyền thống vẻ vang của bộ đội thiết giáp nhân dân Việt Nam nói riêng và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nói chung.
"Hễ ra quân là đánh thắng, đã nổ súng là tiêu diệt địch giòn giã"
Các đồng chí hãy phát huy khí thế chiến thắng, kịp thời rút kinh nghiệm trận chiến đấu vừa qua, ra sức giữ gìn tốt vũ khí, khí tài, không ngừng nâng cao sức mạnh hơn nữa, quyết cùng toàn dân thừa thắng xông lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược".
Ngay sau đó, bức điện đã được phổ biến rộng rãi tới cán bộ, chiến sĩ trong binh chủng và câu "Hễ ra quân là đánh thắng, đã nổ súng là tiêu diệt địch giòn giã" trong bức điện được mặc nhiên xem là truyền thống của bộ đội Tăng Thiết giáp.
Mặc dù có hơi dài và về câu chữ có phần nào đó chưa được thật hoàn mỹ song truyền thống đó đã là niềm tự hào, là nguồn cổ vũ lớn lao khích lệ lớp lớp cán bộ, chiến sĩ xe tăng vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong những năm tiếp theo mà đỉnh điểm là những chiến công vang dội trong cuộc Tổng Tiến công nổi dậy Mùa Xuân năm 1975.
Truyền thống Đã ra quân là đánh thắng của bộ đội Tăng Thiết giáp VN xuất phát từ đâu? - Ảnh 4.
Với những thành tích nổi bật đó, ngày 20.10.1976, Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết số 22/QĐ/QH/K6 và Chủ tịch nước ký lệnh tuyên dương Anh hùng LLVTND cho binh chủng Tăng Thiết giáp. Trong quyết định có đoạn viết:
"... Phát huy truyền thống anh dũng của Quân đội nhân dân Việt Nam, bộ đội thiết giáp đã nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, chiến đấu anh dũng, mưu trí, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể, phát huy mạnh mẽ sức đột kích của mình, ngay từ trận đầu đã đánh thắng giòn giã, xây dựng nên truyền thống vẻ vang của binh chủng: "Đã ra quân là đánh thắng"..."
Từ thời điểm đó, "Đã ra quân là đánh thắng" chính thức trở thành truyền thống của Bộ đội Tăng Thiết giáp Việt Nam!
Nguồn: http://soha.vn/truyen-thong-da-ra-quan-la-danh-thang-cua-bo-doi-tang-thiet-giap-vn-xuat-phat-tu-dau-20171006201012809.htm

Thứ Năm, 5 tháng 10, 2017

BÚT KÝ LÍNH TĂNG- HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP- 47

Vĩ Thanh


14 giờ ngày 30 tháng tư - khi các đơn vị khác đang được nghỉ ngơi tận hưởng niềm vui chiến thắng thì Đại đội 4 lại được giao nhiệm vụ: "Cơ động đánh chiếm cảng Sài Gòn và khống chế mọi sự đi lại trên sông".
Vẫn với tác phong sẵn sàng chiến đấu cao nên chỉ mấy phút sau khi nhận lệnh đại đội đã lên đường được ngay. Rời Dinh Độc Lập toàn đại đội chở theo một số bộ binh, thành một hàng dọc đi về phía mục tiêu. Lúc này đường phố Sài Gòn đã trở nên đông đúc, nhộn nhịp vô cùng. Bà con đứng kín hai bên đường vẫy cờ, vẫy hoa đón mừng nhưng mấy chiếc xe tăng vẫn mải miết đi để lại trên mặt đường nhựa phẳng lì những tảng đất mà hai băng xích đã cuốn lên từ bãi cỏ trước Dinh Độc Lập. Qua một cây cầu đường phố trở nên nhỏ hơn và cũng đông đúc hơn nên đội hình phải đi chậm và rất thận trọng. Và rồi một khung cảnh hỗn độn diễn ra trước mắt những người lính trẻ, hàng đoàn người, cả dân, cả cảnh sát, cả lính... cởi trần trùng trục đang khuân hàng từ trong một cái cổng có hai cánh cổng sắt mở toang ùn ùn kéo ra. Chúng tôi nhận ra đây chính là cổng vào Cảng Sài Gòn và cái đám hỗn độn kia chính là đám hôi của lúc tranh tối tranh sáng. Biết vậy rồi, anh em bộ binh ngồi trên xe giương súng lên trơì bắn từng loạt để dẹp song không ăn thua, họ vẫn nhơn nhơn không sợ. Chắc họ biết bộ đội Giải phóng chỉ bắn dọa mà thôi chứ không bắn vào họ. Một ông già ôm một thùng rượu trong tay đã không tỏ ra sợ hãi mà còn hớn hở cười tung lên xe một chai rượu ngoại... Tình hình có vẻ rất căng. Dù sao đây cũng là tài sản của Nhà nước cần phải bảo vệ. Đại đội trưởng Thận yêu cầu cánh lính bộ binh xuống xe để mở đường cho xe tăng tiến vào cảng. Chỉ đến khi xe 390 vào được cổng cảng và bắn một phát pháo thì tình hình mới được cải thiện. Giữa những ngôi nhà cao tầng, tiếng nổ của trọng pháo 100 ly như dữ dội hơn, tác động của sóng xung kích cũng mạnh hơn thì phải nên hết thảy số người đang hôi của quẳng hàng nằm rạp xuống đất rồi lẳng lặng tản đi. Từ lúc đó toàn bộ khu vực cảng mới yên tĩnh trở lại.
Khi tất cả các xe của đại đội đã vào phía trong bến cảng, đại đội trưởng Bùi Quang Thận cho dàn đội hình hướng pháo ra sông và cắt cử người canh gác các kho hàng, đồng thời đóng hai cánh cổng sắt lại. Trên bến cảng lúc này lổng chổng một đống gỗ súc và mấy chiếc xe du lịch đủ các màu đỗ lộn xộn, các cửa xe mở toang, còn nguyên cả chìa khóa cắm trong ổ. Chắc đây là xe của những người đi di tản bằng đường thủy bỏ lại. Đậu ngay tại cảng là một chiếc tàu vận tải loại nhỏ, trên sườn tàu trắng toát là mấy chữ Trung Quốc đỏ rực nhưng trên tàu không một bóng người. Toàn bộ khu vực cảng cũng không còn một nhân viên nào ở lại làm việc. Còn mười cái nhà kho, những ngôi nhà khung sắt, mái tôn rộng mênh mông trong cảng thì thật là hỗn độn. Hàng hóa bị những người hôi của bới lộn lung tung nhưng còn bạt ngàn, vô thiên lủng và đủ các thứ trên đời. Vốn chẳng mặn mà lắm với các thứ chiến lợi phẩm, cánh lính tăng nhặt mỗi xe một ít vải để bảo dưỡng xe, mấy thứ bát đũa, phích đựng nước và một ít thực phẩm, còn lại sắp xếp tàm tạm rồi đóng chặt cửa lại.
Ngoài bến cảng, mấy chiếc xe tăng pháo đánh thấp gườm gườm chúc xuống lòng sông có tác dụng ngay tức khắc. Thấy hai chiếc tàu nối đuôi nhau chạy ngược sông trung đội trưởng Trị khẽ vẫy tay một cái là cả hai giảm tốc độ rồi từ từ tấp vào cầu cảng. Khi nghe yêu cầu kiểm tra, các chủ tàu lễ phép mang giấy tờ ra trình báo. Họ báo cáo rằng mình là tàu dân sự nhưng bị lính Việt Nam cộng hòa ép phải chở ra Vũng Tàu và bây giờ đang trở về nhà. Thấy mấy chục khẩu súng các loại vứt lộn xộn ở hầm tàu, chúng tôi hỏi thì họ bảo cũng do đám lính đó bỏ lại. Ngoài ra còn một đống quần áo, giày mũ và hai hòm pháo sáng. Chúng tôi khuân tất cả lên bờ. Sau khi kiểm tra thấy giấy tờ hợp lệ đúng như khai báo chúng tôi cho họ đi về nhà. Tuy nhiên, suốt chiều hôm đó cũng chỉ có thêm vài trường hợp nữa cần phải kiểm tra. Có lẽ bà con còn mải đổ ra phố đón mừng Quân giải phóng.  
Chiều xuống dần. Gió lồng lộng thổi. Trên sông từng đám lục bình lặng lẽ trôi. Bình yên quá đỗi. Dường như không hề có một cuộc chiến khốc liệt nào vừa mới xảy ra cả. Như là một chiều trên một bến sông quê nào đó mà thôi. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận gọi cả đại đội ra ngồi sát mép cầu cảng hóng gió và tuyên bố: "Hòa bình rồi! Giờ chúng ta ăn mừng thắng lợi!".  Hai con mực khô vừa nhặt được trong kho đem ra nướng tỏa mùi thơm lừng. Một chai rượu đen mờ chả biết hiệu gì được mở và rót ra một cái bát sắt, cả đại đội chuyền tay nhau uống. Ba thùng pháo sáng thu được cũng được khui ra, cánh lính trẻ thi nhau bắn lên trời. Những chùm pháo sáng lung linh trên bầu trời Sài Gòn tím thẫm như đêm hội hoa đăng mừng chiến thắng. Chai rượu tiếp tục được chuyền tay. Khổ! Lính trẻ, vừa lớn lên là vào chiến trường đã biết bia rượu thế nào đâu, uống vào chỉ thấy nóng ran trong cổ, trong bụng nhưng thật là ngây ngất; cái ngây ngất chắc không phải chỉ vì men rượu.
          Sau những ngày đêm hành quân chiến đấu mệt mỏi, lại có chút rượu vào người, cộng với chỗ nằm thoải mái, mát mẻ trong dãy nhà công vụ của cảng đêm hôm đó chúng tôi ngủ say như chết, tất nhiên là trừ những người làm nhiệm vụ canh gác.

          Sáng 1.5, dẫu ngủ đã mắt rồi nhưng số đông anh em còn nằm rốn mãi mới dậy. Mấy tay pháo thủ vốn đã khoẻ sẵn đang rủ nhau đi chơi phố Sài Gòn. Số còn lại cũng chẳng thiết tha cho lắm bởi Sài Gòn đã ở ngay bên ngoài cổng, lúc nào đi thăm chả được. Nhưng họ đã nhầm! Ngay chiều hôm đó Đại đội 4 có lệnh cơ động. Thành phố lạ, chẳng biết đường cũng chẳng có bản đồ nên cứ bám xe trước mà đi dù chẳng biết đi đâu. Mãi đến khuya thì đội hình mới dừng lại và cũng đến lúc đó lính tráng mới biết mình đang ở trong Tổng kho Long Bình. Thế là hầu hết anh em trong đại đội chưa hề được biết gì thêm về Sài Gòn, về cái thành phố mà họ vừa tham gia giải phóng. Tiếp đó là những ngày bận rộn chuẩn bị xe pháo để tham gia diễu binh mừng chiến thắng, rồi bình công báo công… và bắt đầu có những thay đổi lớn đến với Đại đội 4 này.

 Ngay từ cuối tháng 6 năm 1975.  Bắt đầu có những đợt ra quân đầu tiên trong lộ trình “giải trừ quân bị” sau chiến tranh. Lữ Văn Hỏa, quê Phú Lý, Hà Nam, lái xe 843 là người đầu tiên của đại đội được ra quân. Lý do vì sức khỏe Hỏa rất yếu. Hồi ở hậu cứ sốt rét triền miên, người Hỏa chỉ được một tay xách nặng. Có dạo còn đi tiểu ra nước đùng đục như nước vo gạo. Cùng ra quân với Hỏa còn một vài anh em nữa cũng đều thuộc diện sức khỏe yếu. Lữ Văn Hỏa ra quân rồi, Phòng chính trị mới đưa báo chí xuống phỏng vấn nên không gặp. Thế là bên Chính trị với bên Quân lực cãi nhau, đổ lỗi cho nhau nhưng rồi cũng hòa cả làng.
Tiếp đó một số cán bộ, chiến sỹ trong đại đội được cử đi học tại Trường sĩ quan Tăng Thiết Giáp như trung đội phó Phạm Xuân Tráng, lái xe Nguyễn Khắc Nguyệt, pháo hai Nguyễn Duy Hòa. Trưởng xe 380 Nguyễn Đình Luông sau khi đi viện về thì được cử đi học quản trị trưởng ở quân đoàn. Về cán bộ cũng có sự thay đổi, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận được đôn lên cán bộ tiểu đoàn. Thay anh làm đại đội trưởng chính là đại đội phó Lê Văn Phượng.
Sang năm 1977, tình hình đại đội tiếp tục có những thay đổi lớn. Các pháo thủ Ngô Sỹ Nguyên, xe 390 và Thái Bá Minh, xe 843 cũng được điều ra học sĩ quan ngắn hạn ở Trường sĩ quan Tăng Thiết giáp. Số chiến sĩ cũ trong đại đội cũng lần lượt ra quân hoặc chuyển ngành, có người quay về trường tiếp tục giấc mơ đại học nhưng hầu hết lại về với ruộng đồng. Cho đến cuối năm 1977 thì Đại đội 4 đã gồm hầu hết là người mới. Nói một cách nôm na, cái Đại đội đã từng tồn tại một cách hiên ngang, ngạo nghễ ở Đường 72, đã từng đánh một mạch từ Huế, Đà Nẵng vào đến tận Sài Gòn đã thật sự “tan đàn, xẻ nghé”. Không chỉ thế, nó còn dần dần bị rơi vào quên lãng và chỉ được nhắc đến mỗi năm một lần vào dịp 30 tháng tư với tư cách “ăn theo” người đại đội trưởng dũng cảm của mình.
Tuy nhiên, số cán bộ, chiến sĩ Đại đội 4 thuở ấy ở lại phục vụ quân đội cũng không được lâu dài cho lắm. Chính trị viên Vũ Đăng Toàn, Đại đội phó kỹ thuật Lê Văn Phượng, pháo hai Đỗ Cao Trường sau khi phát triển lên cán bộ cấp tiểu đoàn thì nghỉ hưu vì có một số tiêu chuẩn chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng quân đội trong thời kỳ mới. Pháo thủ Ngô Sỹ Nguyên, pháo thủ Thái Bá Minh, lái xe Võ Đăng Khoa, pháo hai Nguyễn Duy Hòa… sau khi trở thành sĩ quan được mấy năm người thì chuyển vùng, người thì chuyển ngành ra khỏi quân đội theo nguyện vọng cá nhân. Trung đội trưởng Đậu Minh Tiến, Trưởng xe Nguyễn Đình Luông trưởng thành đến cấp trung tá thì nghỉ hưu. Chỉ có Đại đội trưởng Bùi Quang Thận và người viết cuốn sách này là phục vụ cho đến những năm 2000 mới về hưu. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận sau khi được đi đào tạo tại Học viện xe tăng Malinovsky (Liên Xô cũ) thì quay về Lữ đoàn 203 công tác. Anh lần lượt trải qua các chức vụ Lữ đoàn phó tham mưu trưởng, Lữ đoàn trưởng. Năm 1999 anh nghỉ hưu với quân hàm đại tá khi giữ chức vụ Chủ nhiệm Tăng Thiết giáp quân đoàn 2. Còn người viết cuốn sách này - một lái xe trong đại đội thì công tác tại Binh chủng Tăng Thiết giáp đến năm 2008 mới nghỉ.
Số cán bộ, chiến sĩ chuyển ngành ra ngoài cũng chỉ có Trung đội phó Bùi Văn Định và pháo thủ Lê Tiến Hùng là tương đối tiến bộ. Cả hai anh đều về học tiếp Đại học Lâm nghiệp. Sau đó Bùi Văn Định trở thành Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Bắc Cạn. Còn Lê Tiến Hùng trở thành Giám đốc xí nghiệp nguyên liệu của Nhà máy giấy Bãi Bằng. Lái xe Lữ Văn Hỏa không theo nghề cơ khí nữa mà chuyển sang học Đại học Kinh tế quốc dân song do sức khỏe kém nên cũng về hưu sớm. Số còn lại làm nhiều nghề khác nhau song nhìn chung cuộc sống khá là vất vả, khó khăn.

 Thế rồi có một sự kiện xảy ra đã làm cho câu chuyện của Đại đội 4 được nhắc đến một cách vô cùng sôi nổi song cũng lắm bi hài.
Vâng! Đó là năm 1995 với sự kiện nữ nhà báo Pháp Françoise Demulder  xuất hiện và bộ phim truyền hình “Những người lính kíp xe 390” ra đời tạo nên một cơn “sốt” trong xã hội. Bốn anh em trong kíp xe tăng 390 đang im lặng trong bóng tối nay bỗng nổi như cồn. Trong ánh hào quang rực rỡ của ánh sáng trường quay, của những cuộc phỏng vấn, của các buổi lễ lạt mít tinh v.v… một vài người trong số đó đã “nói quá say sưa” về chiến công của mình. Cộng với sự vào cuộc của đội ngũ báo chí có phần thiên vị đã tạo nên một dư luận hết sức không hay là: “Dường như đã có một sự tranh công đổ lỗi giữa những người trong cái Đại đội 4 này mà cụ thể là xe 843 cướp công của 390, anh Bùi Quang Thận cướp công của những người khác”. Dư luận này ngày càng lan rộng trên phạm vi toàn quốc. Thời gian đó, đi đến đâu cũng nghe người ta kháo nhau về câu chuyện này.
Nói cho công bằng, đó là một sự hiểu lầm tai hại của toàn xã hội đối với một sự thật lịch sử. Còn riêng với Đại đội 4 thì cũng tai hại không kém và bị chia rẽ một cách nghiêm trọng. Thật đau xót khi những người đồng đội đã từng vào sinh ra tử với nhau suốt mấy năm trời giữa mưa bom, bão đạn, giữa cái sống cái chết… chỉ vì chút danh tiếng hão huyền mà bây giờ lại coi nhau như người dưng.
Bình tâm lại và phân tích mọi vấn đề, dễ dàng nhận ra rằng sở dĩ có tình trạng trên hoàn toàn là do cách tuyên truyền của các phương tiện thông tin đại chúng và các cơ quan tuyên huấn của chúng ta. Thực ra, diễn biến chiến đấu của trận hành tiến tiến công Dinh Độc Lập ngày 30 tháng tư năm 1975 thì nói chung các cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn xe tăng 203 ngày ấy chẳng ai còn lạ gì. Xe nào đến trước, xe nào đến sau, anh Thận xuống xe như thế nào, chuyện vào Dinh ra sao v.v… hầu hết mọi người tường tận cả. Sự kiện đó đã được ghi lại một cách cụ thể trong cuốn “Một số trận chiến đấu của bộ đội Tăng Thiết giáp - Tập 2” do Bộ Tư lệnh Thiết Giáp xuất bản năm 1978 nguyên văn như sau: “11.30 ngày 30-4-1975 phân đội đi đầu lữ đoàn 203 tiến đến trước “dinh Độc Lập”, quân địch không còn tinh thần chống cự. Tăng 390 húc đổ cổng sắt, đại đội trưởng Bùi Quang Thận xông vào dinh nhanh chóng hạ cờ ngụy, treo lá cờ giải phóng lên vị trí cao nhất”- tr. 135. Tuy nhiên, chi tiết này không được khai thác và công bố rộng rãi đã dẫn đến những hệ lụy vô cùng đáng tiếc về sau.
Sở dĩ có tình trạng ấy theo một số nguồn đáng tin cậy sau 30 tháng tư năm 1975, có một chỉ thị miệng từ “trên xuống” là không tuyên truyền về xe 390. Lý do chỉ vì nó là một chiếc T59 do Trung Quốc chế tạo mà quan hệ giữa hai nước lúc đó đang nhanh chóng xấu đi. Thế là người ta chỉ quan tâm đến việc đưa tin ca ngợi hành động cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập của đại đội trưởng Bùi Quang Thận. Còn một lẽ nữa đó là hồi sau chiến thắng ai cũng coi cái chuyện húc cổng Dinh là một cái gì đó hết sức bình thường. Không xe 390 húc thì sẽ có xe khác, cả một lữ đoàn xe tăng mấy chục chiếc ở ngay sau đó mà. Còn cái cánh cổng Dinh thì có vững chãi gì đâu, với cái xe tăng 36 tấn thì nó chỉ cần ẩy khẽ một cái là đổ thôi. Vì vậy, khi thấy người ta chỉ ca ngợi chuyện cắm cờ thì chẳng ai, kể cả kíp xe 390 thắc mắc gì.

 Cũng dễ dàng nhận ra cái sự tuyên truyền của ta mang nặng tính biểu tượng. Với hành động cắm cờ người ta ngợi ca nó như một hành động anh hùng báo hiệu giờ phút cáo chung của chính quyền Sài Gòn. Dần dần, họ lại vô tình đồng nhất việc anh Thận lên cắm cờ với việc xe 843 của anh húc cổng Dinh (anh ấy cắm cờ thì đương nhiên xe anh ấy phải đến đầu tiên). Một số tay thợ vẽ “vườn” của tuyên huấn Binh chủng Tăng Thiết giáp lại vẽ lại tấm ảnh một chiếc xe tăng nằm giữa cổng Dinh và tương lên đó số hiệu 843. Rồi binh chủng Tăng Thiết giáp lại còn đặt hàng số lượng lớn bằng sơn mài để làm quà tặng nữa chứ. Tai hại hơn nữa, các nhà làm sách giáo khoa lại lấy luôn tư liệu tuyên truyền của tuyên huấn làm chính sử đưa vào sách giáo khoa. Vậy là, suốt những năm trước 1995, chẳng ai biết đến sự thật lịch sử đã diễn ra như thế nào và cũng chẳng mấy ai biết đến kíp xe 390.
Thế rồi, sự kiện 1995 ập đến. Báo chí lại một phen ào ạt xung trận nhưng đợt này là ca ngợi xe 390 đã húc đổ cánh cổng Dinh như “húc đổ thành lũy cuối cùng của chế độ thực dân kiểu mới”. Lại thêm bộ phim truyền hình của đạo diễn Phạm Việt Tùng với những hình ảnh và lời bình có phần “thậm xưng”, nói về hoàn cảnh thực tại của mấy thành viên kíp 390 đã làm dấy lên câu hỏi cho toàn xã hội: “Tại sao những người làm nên chiến công này lại bị đối xử tàn tệ như vậy. Tại sao không ca ngợi họ mà chỉ ca ngợi kíp xe 843…?”. Các anh em nhà ta vốn chân chất, thật thà nên bây giờ được lên đài, lên báo là sướng và tất nhiên cánh nhà báo và MC họ lái đi đâu là cứ thế đi theo. Thậm chí có lúc các anh cũng tin rằng đồng đội của mình đã tranh công của họ. Đó chính là một bi kịch đối với Đại đội 4 xe tăng và làm cho hầu hết anh em trong đơn vị hết sức buồn lòng.

Cũng may, dần dần các anh em hai kíp xe cũng hiểu ra thực chất vấn đề và quan hệ giữa Đại đội trưởng Bùi Quang Thận với Chính trị viên Vũ Đăng Toàn, giữa kíp xe 843 với 390 đã cải thiện đáng kể. Kể từ đó các anh trở nên thân thiết như xưa - như cái thời chung lung đấu cật ở chiến trường. Khi đã đoàn kết với nhau, các anh bàn với một số anh em còn đang công tác làm thế nào để Đại đội 4 được tuyên dương xứng đáng với thành tích và công trạng của nó. Vừa để lấy lại sự công bằng, vừa là vinh danh các liệt sỹ của đại đội đã anh dũng hy sinh, đồng thời là một cơ hội để kéo mọi người lại với nhau. Nói cho công bằng, với những thành tích của mình Đại đội 4 hoàn toàn xứng đáng với điều đó. Ngay từ năm 1975 cũng đã có ý kiến đề nghị rồi nhưng không biết vì lý do gì mà không được xét. Người thì bảo do các thủ trưởng cấp trên quan niệm: “Lữ đoàn đã anh hùng thì mọi tập thể dưới đó và mọi cá nhân cũng anh hùng rồi, còn đề nghị làm gì”. Người thì bảo do Đại đội 4 làm cháy kho đạn cuối năm 74… Rất may là ý định đó được Ban chỉ huy Lữ đoàn xe tăng 203 hiện tại hoàn toàn ủng hộ.

Và rồi cái gì đến sẽ phải đến. Tháng 10 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận 2 chiếc xe số 843 và 390 của Đại đội 4 là Bảo vật quốc gia.  Ngày 26 tháng tư năm 2013, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã ký Quyết định số 804/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho Đại đội 4 xe tăng thuộc Lữ đoàn 203. Tiếp đó, ngày 30 tháng mười năm 2013, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận cũng được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Tiếc một điều là người đại đội trưởng dũng cảm đó đã không được tận hưởng niềm vinh dự đó vì anh đã ra đi quá sớm.

Ngày đón danh hiệu Anh hùng của Đại đội 4, gần 30 anh em có dịp được đoàn tụ bên nhau. Có những người gần 40 năm nay mới được gặp nhau. Mừng mừng, tủi tủi. Tất cả đã già đi cùng năm tháng, có người trở nên nổi tiếng và rất nhiều người dường như đã chìm vào quên lãng. Nhưng những câu chuyện về một quá vãng vô cùng gian khổ, ác liệt nhưng cũng rất mực lãng mạn, hào hùng vẫn nổ như ngô rang. Và người viết cuốn sách này chỉ xin ước một điều - xin thời gian trở lại cho cả Đại đội lại được bên nhau một lần vục khuôn mặt lấm lem vào bồn nước giữa sân Dinh Thống Nhất, rồi tới bên bờ sông Sài Gòn lộng gió để uống rượu, để bắn pháo hoa, để cùng ôm nhau cười và khóc.

                                                                                  Sài Gòn 30.4.1975
                                                                        Hà Nội tháng 12.2006.
                                                                        Bổ sung: Tháng 12.2014.

Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt
Nguyên chiến sĩ lái tăng số 380, Đại đội 4, Lữ đoàn 203

Hai chiếc xe 843 và 390 húc đổ cổng dinh ĐL (Franxoa DeMunde)

Đại đội XT4 ngày đón nhận danh hiệu AHLLVTND (6.2013)

Thứ Ba, 3 tháng 10, 2017

BÚT KÝ LÍNH TĂNG- HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP- 46


Đúng lúc ấy xe 390 đã đến trước cổng dinh, Tập hơi giảm chân dầu và kéo cần lái bên phải về vị trí “hành tinh”, chiếc xe cua một vòng 90 độ nằm đối diện với cổng chính. Tập tăng chân dầu lao thẳng vào cổng, một cánh cổng đổ sập xuống, cánh kia bung bản lề đổ nghiêng, theo đà tiến xe 390 lao hẳn vào trong sân dinh.
Thận đã tháo được lá cờ, anh nhảy xuống chạy băng qua thảm cỏ bên cạnh xe 390 về phía cửa chính, thấp thoáng một vài bóng người cầm máy ảnh phía trước.
Từ trong xe Toàn đã thấy Thận cầm lá cờ chạy bộ ngay bên cạnh xe mình. Nghĩ thầm trong bụng: “Nguy hiểm quá! Đã biết lực lượng địch trong Dinh thế nào mà anh ấy lại xuống xe thế kia” Toàn nhắc Tập:
- Giảm tốc độ! Chạy từ từ thôi.
Hỏa đã đưa được cần số về số “không” và ấn nút khởi động, động cơ nổ được ngay. Cậu lùi lại một chút chỉnh hướng rồi lao vào sân dinh sau xe 390 vài mét. Hỏa tăng ga cho xe chạy song song với xe 390, hai chiếc xe như hai người lính cận vệ hai bên cho đại đội trưởng của mình.
Cả hai xe lao đến sát tiền sảnh Dinh thì dừng lại. Đại đội trưởng Thận vẫn cầm lá cờ chạy lên bậc tam cấp và khuất dạng sau cánh cửa. Chính trị viên Vũ Đăng Toàn ra lệnh:
- Anh Phượng lên ôm 12 ly 7, cả xe sẵn sàng bảo vệ cho anh Thận và tôi.
Ra lệnh xong Toàn bật nắp cửa trưởng xe cắp khẩu AK nhảy xuống chạy theo Thận vào trong Dinh. Đại đội phó Lê Phượng đội cửa pháo hai lên ôm lấy khẩu 12 ly 7. Bên xe 843 pháo hai Nguyễn Văn Kỷ cũng đã đội cửa lên. Cả hai nhìn như dán vào Dinh, tay lăm lăm bóp cò. Hỏa và Tập vẫn ngồi nguyên vị trí, họ vẫn để ở số hai và dừng xe bằng cần lái, như thế này nếu cần chỉ đẩy hai cần lái về phía trước là xe sẽ chồm lên ngay. Trên ghế pháo thủ Minh và Nguyên cũng đang dán mắt vào kính mặt bằng, hai nòng pháo vẫn chĩa thẳng vào dinh, hai ngón cái đặt sẵn vào nút cò điện.
Đ/c Bùi Quang Thận xông vào dinh cắm cờ

Chạy đằng sau xe 843 vài trăm mét Trang thấy rất rõ tình hình diễn ra phía trước. Khi nhìn thấy chiếc xe 843 khựng lại Trang đã thót tim vì lo cho Hỏa, không hiểu đã có chuyện gì xảy ra, cậu bảo Thọ:
- Chú ý quan sát nhé! Thấy thằng nào thật nguy hiểm thì mới bắn!
Nói rồi Trang nhấn ga tăng tốc độ, chiếc xe lao phăm phăm trên con đường rộng thênh thang không một bóng người. Còn khoảng vài trăm mét Trang chợt nhìn thấy chiếc 390 từ bên phải chạy sang rồi cua một vòng “hành tinh” cực kỳ điêu luyện vào ngay chính diện cổng chính. Phía sau xe 390 là mấy xe của đại đội Bốn và đại đội Ba, có cả một cái K63-85 lội nước không hiểu sao cũng đã đến được đây. Trang thở phào nhẹ nhõm.
           Đại đội trưởng Bùi QuangThận trả lời phóng viên sau khi cắm cờ

Khi hai chiếc xe 843 và 390 đã tiến sát tiền sảnh, đội hình xe tăng tiếp theo tản ra thành hình vòng cung trên thảm cỏ hình thành thế bao vây ôm chặt lấy Dinh. Những nòng pháo vẫn gườm gườm chĩa thẳng vào Dinh sẵn sàng nhả đạn. Hàng chục chiếc động cơ 550 mã lực vẫn gầm rú như đàn voi chiến đang còn say mùi khói súng. Vài giây sau không thấy động tĩnh gì tiếng động cơ nhỏ dần rồi tắt hẳn, những nắp cửa bật tung ra. Từ trong xe những thân hình nhem nhuốc nhảy ra ôm lấy nhau hò reo mừng rỡ, hàng chục chiếc mũ công tác tung lên. Mấy tên pháo hai hứng chí quay 12 ly 7 ngỏng lên trời kéo cò luôn cả hòm 50 viên đạn.
Phía sau các ô tô, xe bọc thép chở bộ binh cũng đang dồn đến ngoài cổng. Trên xe bộ binh cũng giương súng lên trời xả hàng băng đạn. Cánh nhà báo lúc nãy nấp ở đâu không biết giờ kéo ra khá đông đang lăng xăng ghi hình, chụp ảnh. Bọn lính cảnh vệ và nhân viên trong Dinh đã bị dồn lại ngồi thành một hàng ở phía bên phải sân Dinh một cách rất trật tự…
Lao chiếc 380 “sứt môi” vào sát bồn nước giữa sân Dinh, Trang dừng lại. Cậu vừa mở cửa lái xe đã thấy Thọ nhảy bổ xuống, hai anh em ôm lấy nhau nhảy tưng tưng, miệng hò reo như trẻ con trong ngày hội. Trên xe 381 trung đội trưởng Trị cắp khẩu AK vào nách đứng trên đỉnh tháp pháo hô lớn:
- Chú ý nghe đây! Các lái xe và pháo hai không được rời xe! Còn lại theo tôi vào Dinh!
Thọ bỏ Trang ra lao bổ về phía Dinh. Trang và cánh lái xe tiu nghỉu đứng nhìn đồng đội mình đang lao vào Dinh như một dòng thác. Một tay nhà báo tay lăm lăm cái máy ảnh đang hướng về phía Trang. Đến lúc này Trang mới chú ý đến mình. Bộ quần áo mặc từ hôm 27 đến giờ chưa thay lấm lem bụi đất đỏ rừng cao su và dầu mỡ, nhiều chỗ còn dính máu pháo hai Duyệt. Tai hại hơn, không biết quạc vào đâu mà ống quần bên trái của cậu rách một đường từ trên đầu gối xuống đến tận gấu quần. Bối rối quá Trang quay đi và chui tọt vào ghế lái xe.
Chính lúc ngồi trong ghế lái xe nhìn ra xung quanh Trang mới cảm nhận thật đầy đủ cái sự kiện vĩ đại mà cậu và các đồng đội của cậu đã góp phần làm nên và tận mắt được chứng kiến, Trang hiểu rằng từ giờ phút này chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt, không còn đổ máu, không còn chết chóc… Cúi nhìn đồng hồ hành trình Trang thấy con số 3.100 hiện trên công tơ mét, cậu chợt liên tưởng đến con đường mà bao thế hệ đã đi qua để hôm nay đến được cái đích cuối cùng này. Một ý nghĩ thoáng qua trong óc, Trang vội vàng móc cuốn sổ tay “bất ly thân” đã rách te tua ra ghi vội:
                        “Khi chiếc xe tăng dừng trước Dinh Độc Lập
                        Ta ngỡ ngàng - đây thật hay mơ?
                        Cây số cuối cùng - cuộc trường chinh dằng dặc
                        Đến rồi chăng? Hai mắt bỗng dưng nhòa.”
Sài Gòn - trưa 30 tháng tư năm 1975

Hai mắt Trang nhòa đi thật, cậu biết rằng để hôm nay các cậu đến được cái đích này, đến “cây số cuối cùng” này đã có biết bao người phải đổ máu, hy sinh. Chỉ riêng “xê Bốn” này thôi mười đồng đội của cậu đã vĩnh viễn gửi lại tuổi thanh xuân trên những chặng đường chiến đấu. Mới chỉ hôm kia thôi Nguyễn Kim Duyệt, pháo hai chính cái xe 380 này cũng đã ngã xuống mà hành trang để lại chỉ là một ba lô sách. Trang gập cuốn sổ tay, tỳ trán vào cửa lái xe và nhắm mắt lại để kìm cơn xúc động.

Khi đã tĩnh trí Trang ngẩng lên nhìn, trên nóc Dinh Độc Lập đại đội trưởng Thận của cậu đang kéo lá cờ giải phóng lên cột cờ. Lá cờ xanh đỏ giữa có ngôi sao vàng nhuốm màu khói súng và lỗ chỗ vết đạn gặp gió tung bay phấp phới trên bầu trời tháng tư Sài Gòn xanh ngắt.


BÚT KÝ LÍNH TĂNG- HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP- 45


Đến cầu Rạch Chiếc, một chiếc M48 điên cuồng bắn chặn nhưng nó nhanh chóng bị bắn cháy. Qua cầu một đoạn đã thấy nhà cửa dầy hơn, đã nhìn thấy lò cao của nhà máy xi măng Hà Tiên và những tấm quảng cáo lớn như những mái nhà nằm rải rác. Sài Gòn đã ở ngay trước mắt.
Tiểu đoàn Một vẫn tiến nhưng tốc độ chậm hơn, xa xa đã nhìn thấy một cây cầu cong cong nằm vắt mình qua dòng sông rộng, ai cũng hồi hộp vì biết rằng đó là cầu Sài Gòn. Bên kia cầu đã là nội đô, sào huyệt cuối cùng của địch.
Đã tiến gần hơn đến cầu, ngay gần đầu cầu là những chướng ngại vật được xếp bằng thùng phuy đổ đất đứng sừng sững. Bất chợt những chiếc xe tăng nấp sau chướng ngại vật phát hỏa. Từ phía bên kia cầu cũng xuất hiện mấy chiếc xe tăng lợi dụng mặt cầu cong nhô lên bắn dữ dội vào quân ta. Trên đầu hai chiếc máy bay quần lượn định nhào xuống cắt bom. Pháo tầm xa cũng bắn liên tục vào đội hình.
Ngay loạt đạn đầu của pháo tăng địch hai xe tăng của đại đội Một đã bị cháy, chiếc xe thiết giáp của phân đội trinh sát cũng trúng một quả pháo. Tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ và một số chiến sĩ hy sinh, đội hình cả tiểu đoàn bị ùn lại. Các xe nhanh chóng tản ra hai bên đường lợi dụng địa hình địa vật để tránh pháo và tiêu diệt xe tăng địch. Xe 381 lùi hẳn xuống một chỗ trũng ven đường.
Nhìn qua kính trưởng xe Thận thấy xe tăng địch chỉ nhô một tý tháp pháo lên sau các chướng ngại vật và mặt cầu nên rất khó bắn, để diệt chúng cần phải tập trung hỏa lực của vài xe. Vì vậy, anh lên đài gọi các xe trong đại đội:
 - 43 gọi 40! Theo lệnh tôi tập trung hỏa lực diệt từng xe tăng địch! Bắn chiếc gần nhất, bắt đầu!- Anh bóp báo gọi bảo Minh- Bắn cái gần nhất ấy!
 Bên các xe khác cũng đã nghe được lệnh, cả mấy xe cùng bắn vào chiếc tăng gần nhất. Sau hai loạt đạn thì chiếc M48 bốc cháy. Thận lập tức lên đài:
- 43 gọi 40! Bắn cái thứ hai!
Lại một loạt đạn tập trung vào cái M48 thứ hai nấp sau chướng ngại vật bên trái đường, chiếc xe bốc cháy ngay lập tức. Bên ta thêm hai xe nữa của đại đội Một bị trúng đạn bởi pháo tăng trên mặt cầu. Thận lại bóp phát:
- 43 gọi 40! Ngắm sẵn vào mặt cầu, đợi nó nhô lên thì bắn ngay!
Quả nhiên cách này có tác dụng. Chiếc M48 vừa nhô tháp pháo lên đã bị mấy quả đạn xuyên lao tới, nó không bốc cháy nhưng lùi xuống mất dạng. Hai chiếc máy bay sau nhiều vòng quần lượn định lao xuống nhưng bị cao xạ của ta bắn hất lên cũng đã bỏ đi, pháo địch bắn tới cũng thưa hơn. Đạn trên hai chiếc M48 cháy bắt đầu nổ dữ dội, khói lửa mù mịt phía đầu cầu.
Lợi dụng lúc hỏa lực địch yếu đi đội hình đi đầu đã nhích sát chân cầu, Trang cũng đã cho xe len lách lên ngay phía sau đại đội mình. Dưới sông hai cái tàu chiến chạy về phía hạ lưu, chúng quay súng lên bắn như vãi trấu về phía bờ Bắc.  Thận lên đài gọi:
- 43 gọi 40! Quay pháo ra sông diệt tàu chiến!
Mấy khẩu pháo cùng gầm lên. Những cột nước bốc lên xung quanh hai con tàu, chúng hoảng sợ dạt vội vào bờ. Những bóng áo lính bỏ tàu chạy lên nhốn nháo.
Trong tai nghe của Thận bỗng thấy vang lên tiếng lữ phó Công:
- 01 gọi dê Một! Lập tức cho xê Ba xung phong vượt cầu, xê Bốn sẵn sàng yểm hộ!
Mệnh lệnh được nhắc đi nhắc lại hai lần nhưng không có ai trả lời, chắc do tiểu đoàn trưởng Nhỡ đã hy sinh chưa có ai thay thế. Tuy nhiên các đại đội trưởng đều đã nghe được. Thận vội lên đài:
- 43 gọi 40! Sẵn sàng xung phong vượt cầu!
Đã thấy một xe của “xê Ba” lao lên mặt đường, Thận hô:
- 43 gọi 40! Xung phong vượt cầu!- Nhấn nút nội bộ anh giục Hỏa- Tiến!
Chiếc 843 chồm lên, ngay sau đó là xe 390 và vài xe khác trong tiểu đoàn.
Quân địch hầu như đã bị tê liệt nên không thấy đạn từ các ổ đề kháng đầu cầu bắn ra nữa, từng chiếc xe lách qua chướng ngại vật để lên cầu. Khói lửa từ hai chiếc xe tăng cháy vẫn bốc ra mù mịt, thỉnh thoảng một ngọn lửa lại bùng lên cao do đạn nổ. Cầu Sài Gòn đã hiện ra ngay trước mắt, hơn chục chiếc xe tăng nối đuôi nhau vượt qua cầu, cái 380 sứt sẹo lóc cóc chạy cuối đội hình.
Lên đến đỉnh cầu Sài Gòn tầm mắt được mở rộng ra hơn. Từ độ cao này đã nhìn rõ những tòa cao ốc trong trung tâm thành phố, những dãy nhà lúp xúp ngay dưới chân cầu và con đường trải rộng trước mắt không một bóng người. Đoàn xe tăng rầm rập đổ dốc lao vào trung tâm. Các lái xe vừa dán mắt vào kính lái nhìn đường, nhìn địch và tìm điểm chuẩn là cầu Thị Nghè.
Đúng lúc Hỏa nhìn thấy cầu Thị Nghè cũng là lúc hai ánh chớp nháng lên phía bên kia cầu. Hai chiếc xe M41 phục kích bên kia cầu đang bắn vào đội hình ta, chiếc xe đi đầu bị trúng đạn nhưng cũng kịp bắn diệt một cái. Hỏa vội dạt sang một bên đường, Thận hét:
- Minh! Xe tăng phía trước!
 Minh đã nhìn thấy cái M41 đang quay nòng pháo về phía xe mình, biết Kỷ đã lắp sẵn một viên đạn xuyên trong nòng pháo nên vừa đưa được mục tiêu vào đầu ngắm cậu nhanh tay bóp cò luôn. Viên đạn xuyên lao vút đi, chiếc M41 bốc cháy đùng đùng. Chiếc xe 866 dẫn đầu đã bị thương, lửa cháy lem lém ở thùng dầu ngoài, trên xe anh em đang kéo trưởng xe ra đưa xuống đất để băng bó. Té ra chẳng phải ai xa lạ. Đó chính là Lê Tiến Hùng, một pháo thủ cũ của “xê bốn” này. Thận lệnh cho Hỏa tăng tốc độ dạt sang bên trái đường để vượt qua, bám sát theo xe anh là xe 390 và mấy xe khác trong đại đội.
Đường phố vẫn vắng tanh vắng ngắt, những ai bất ngờ có việc ra đường đều nhanh chân dạt vào trong các hẻm hai bên đường. Hỏa vẫn đang lẩm nhẩm trong đầu: “chạy thẳng đến ngã tư thứ bảy rẽ trái” thì nghe tiếng Thận trong máy nói:
- Hỏa! Rẽ trái!
Không kịp hỏi lại Hỏa kéo mạnh cần lái bên trái, chiếc xe rẽ ngoặt vào một đường phố khác. Hơi ngần ngừ một chút rồi cậu nhấn ga, bụng bảo dạ: “đường phố bao giờ cũng như bàn cờ, cứ đi đường này rồi rẽ phải thế nào cũng đến”.
Từ phía sau Tập đã nhìn thấy xe 843 rẽ trái, cậu lẩm bẩm: “thằng cha Hỏa này lạc đường rồi, phải đi thẳng mới đúng chứ” rồi nhấn ga cho xe chạy thẳng. Hai xe M113 bất ngờ xuất hiện, Nguyên chẳng đợi khẩu lệnh trưởng xe bắn luôn một phát. Mấy xe ở phía sau cũng bắn, hai chiếc M113 bốc cháy như hai bó đuốc.
Chạy đằng sau Trang thấy rõ ràng đoàn xe tăng phía trước đã chia thành hai ngả, một vài xe rẽ trái theo 843, hầu hết lại chạy thẳng theo xe 390. Cậu rất phân vân không hiểu ra làm sao nhưng rồi đi đến quyết định rất nhanh: “cứ đi theo xe đại trưởng” nên đến cái ngã tư ấy cậu cũng kéo cần lái rẽ về bên trái.
Đường phố vẫn không một bóng người, một vài cái xe Jeep, xe mô tô vứt chỏng chơ trên đường. Thận trở nên bối rối vì cứ nghĩ đơn giản rằng vào thành phố thấy cái nhà nào cao, to mà treo cờ ba sọc thì đó chính là dinh Độc Lập. Nhưng vào đến đây anh mới thấy thành phố lớn quá, nhà cao to treo cờ ba sọc cũng nhiều quá, vì vậy anh quyết định sẽ phải tìm người để hỏi.
Đã chạy hết một dãy phố nhưng đường phố thì vắng tanh, nhà nào nhà ấy đóng cửa im ỉm, chỉ thấy giấy tờ bay ngập đường chẳng có “ma” nào để hỏi đường Thận quyết định cho xe dừng lại ở một chỗ rất nhiều cây xanh. Chiếc xe vừa nép vào bóng rặng cây ven đường dừng lại thì một phụ nữ trẻ phóng chiếc xe máy đi tới. Mừng như bắt được vàng Thận vẫy cô ta đứng lại. Không biết vì sợ hay vì ngại mà cô ta vẫn chạy, cáu tiết và cũng chẳng còn cách nào hơn Thận nâng khẩu AK vẫn để ngay cạnh mình lên bắn chỉ thiên một loạt. Nghe tiếng súng người phụ nữ vội dừng xe. Thận vẫy cô ta đến gần. Thì ra đó là một phụ nữ còn khá trẻ mới chừng ba mươi tuổi, gương mặt khá xinh. Cô ta bước tới gần chiếc xe tăng mà hai chân cứ ríu vào nhau chực sụp xuống, mặt thì cắt không còn hột máu. Nhìn bộ dạng ấy Thận biết cô ta đang rất sợ nên hỏi rất mềm mỏng:
- Cô gái! Chúng tôi là quân giải phóng, cô làm ơn chỉ giúp đường nào đến dinh Độc Lập?
- Tôi…không…rõ…rõ…!- Cô gái lập bập nói chẳng ra hơi.
Thận bỏ hẳn mũ công tác ra hỏi lại:
- Dinh Độc Lập là chỗ tổng thống Nguyễn Văn Thiệu làm việc ấy mà!
- Tôi… không…không…biết!- Cô ta vẫn lặp lại.
- Cô cứ bình tĩnh nghĩ đi! Chúng tôi là quân giải phóng vào đây chỉ đánh Mỹ, ngụy chứ không làm gì hại tới đồng bào. Nếu cô không giúp đỡ chúng tôi nghĩa là cô ủng hộ Mỹ ngụy nên chúng tôi sẽ bắt cô.
- Đừng…đừng… bắt tôi! Tôi nghĩ ra rồi! Đó gọi là Dinh Tổng thống phải không? Thế thì nó ở ngay trước mặt các ông kia kìa, ngôi nhà màu trắng ấy!- Người phụ nữ đưa tay chỉ về một ngôi nhà màu trắng thấp thoáng phía xa.
Thận nheo mắt nhìn, quả thật đằng sau những tán lá cây xanh mướt có một ngôi nhà khá lớn màu trắng đứng sừng sững, anh gặng lại một lần nữa:
- Có đúng thế không?
- Đúng vậy!- Người phụ nữ đã bình tĩnh hơn nên khẳng định một cách chắc chắn.
- Thế thì cảm ơn cô! Cô đi được rồi!
Thận ngoảnh lại phía sau, cách anh vài trăm mét có một vài xe đang tiến đến. Anh chui vào xe và nói ngắn gọn với cả xe:
- Dinh Độc Lập đang ở ngay phía trước chúng ta, hiện giờ không biết lực lượng địch và khả năng chống cự của chúng thế nào nên cứ phải liều thôi. Bây giờ tất cả các loại vũ khí đều phải để ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu, Hỏa dùng tốc độ cao lao vào. Tất cả rõ cả chưa?
- Rõ!- Hỏa, Minh, Kỷ cùng đáp.
- Tiến!
Hỏa khởi động động cơ và nhanh chóng cho xe chạy, khi đã đủ đà cậu tống lên số ba và tăng chân dầu. Chiếc xe lao ầm ầm trên đường như con voi sổng chuồng. Đã nhìn rõ ngôi nhà bốn tầng mầu trắng nằm chính diện với con đường, trên nóc lá cờ ba sọc phất phơ bay. Thận khẳng định: “đúng là Dinh Độc Lập rồi”.
Chẳng biết quân địch trong đó thế nào Thận nghĩ: “phải làm cho chúng nó sợ cái đã” và quyết định:
- Minh! Đánh pháo cao bắn lên trời một phát!
Pháo thủ Minh hơi ngỡ ngàng nhưng cũng răm rắp làm theo, cậu ta quay tầm cho pháo lên cao hết cỡ rồi bóp cò. Không có tiếng nổ. Minh giật vội cần lên cò lại và bóp cò tiếp một lần nữa nhưng đạn vẫn không nổ. Hơi cuống nhưng Minh vẫn nghĩ ra, nó hét:
- Kỷ! Lắp viên đạn khác!
Kỷ đang loay hoay tháo viên đạn hỏng ra thì xe đã tới ngay gần cổng Dinh, tại đây quân địch đã bày rất nhiều những hàng rào sắt làm chướng ngại vật. Thận hô:
- Cứ lao thẳng vào!
Đang chạy với tốc độ cao lại phải lượn tránh mấy cái chướng ngại vật làm xe hơi lệch sang trái so với cổng chính nên Hỏa quyết định sẽ húc vào cổng bên trái. Cậu giật cần lái trái cho xe nhao hẳn sang một bên rồi giật cần lái bên phải lấy lại hướng cho chính diện. Chưa kịp lấy lại hướng thật chính xác thì chiếc xe đã húc vào cổng Dinh, băng xích bên phải thúc vào làm một cánh cổng đổ nghiêng xuống, cánh cổng bên kia cũng mở ra. Băng xích bên trái đâm vào trụ cổng, tiếng động cơ gằn lên rồi lịm hẳn.